Tất cả sản phẩm

Có thể. Sau khi đã khởi kiện, nguyên đơn vẫn có thể sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, nhưng việc bổ sung phải nằm trong giới hạn pháp luật tố tụng cho phép. 1. Có được bổ sung yêu cầu khởi kiện không? Căn cứ Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về quyền của đương sự như sau:“4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này.”Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Các đương sự có quyền bảo lưu toàn bộ nội dung yêu cầu ban đầu đã nộp cho Tòa án. Hoặc đương sự có quyền sửa đổi, điều chình một phần hoặc toàn bộ nội dung yêu cầu. Ngoài ra có quyền bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ mới bên cạnh các yêu cầu đã có trước đó. Đương sự có quyền từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã đưa ra, làm chấm dứt việc Tòa án xem xét đối với phần yêu cầu bị rút. 2. Thế nào là “không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”? Phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu không đo lường bằng con số, mà được xác định dựa trên Quan hệ pháp luật (QHPL) tranh chấp được đưa ra giải quyết.Theo quy định của BLTTDS, tại khoản 1 Điều 188 BLTTDS quy định về phạm vi khởi kiện: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều  cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.” BLTTDS 2015 tại khoản 1 Điều 244 quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi  yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu.”Trường hợp 1: Không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.•    Cùng QHPL nhưng điều chỉnh về định lượng. VD: Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm (QHPL: Bồi thường/Đòi lại tài sản). Việc điều chỉnh từ 30m² lên 35m² sau khi đo đạc thực tế vẫn thuộc cùng một QHPL đòi lại diện tích đất bị lấn chiếm đó.•    Bổ sung yêu cầu phát sinh từ cùng QHPL hoặc QHPL liên quan. VD: Tranh chấp hợp đồng vay (QHPL: Vay tài sản). Việc bổ sung yêu cầu trả lãi chậm trả là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ QHPL vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.Trường hợp 2: vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.Đưa ra một QHPL hoàn toàn mới, không liên quan đến QHPL đã khởi kiện ban đầu. VD: Ban đầu nguyên đơn khởi kiện đòi B trả nợ tiền vay (QHPL hợp đồng vay). Quá trình giải quyết, nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu B phải chia thừa kế một mảnh đất khác không liên quan đến khoản tiền vay. Đây là hai QHPL độc lập, việc bổ sung này bị xem là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trường hợp này sẽ không được HĐXX giải quyết vì không thể thu thập xác minh thêm chứng cứ. Nhưng đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu giải quyết quan hệ pháp luật đó Tóm lại, Vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu phải được hiểu là vượt quá phạm vi Quan hệ pháp luật tranh chấp ban đầu, chứ không phải vượt quá về mặt con số, diện tích hay số tiền. 3. Thời điểm bổ sung? Tại khoản 7 Mục IV Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC– Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.– Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chi nhánh doanh nghiệp có tư cách pháp nhân không? Công ty Luật VietLawyer xin tư vấn như sau: Chi nhánh doanh nghiệp là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp và không có tư cách pháp nhân.  Theo khoản 1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp như sau: "Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp 1. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, bao gồm cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp." Do đó, Chi nhánh doanh nghiệp là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ/một phần chức năng của doanh nghiệp, bao gồm cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Một tổ chức có tư cách pháp nhân khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể như sau: Pháp nhân 1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. 2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác." Do đó, để công ty có tư cách pháp nhân thì trước hết phải đáp ứng một số điều kiện, bao gồm: - Ðược thành lập hợp pháp: Tổ chức phải được thành lập theo đúng trình tự, thủ tục tương ứng do pháp luật quy định cho loại hình tổ chức đó. - Có cơ cấu tổ chức: Có cơ quan điều hành, tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ, quyết định thành lập của pháp nhân. - Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: Tài sản của tổ chức phải hoàn toàn biệt lập, tách biệt với tài riêng của thành viên hoặc tài sản của cơ quan sáng lập tổ chức. - Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: Tổ chức bằng các điều kiện và khả năng tài sản của mình, với tư cách pháp lí của chính mình để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như gánh chịu trách nhiệm dân sự phát sinh từ đó. Như vậy, chi nhánh chỉ là một đơn vị thuộc của một doanh nghiệp và chỉ đáp ứng yêu cầu là được thành lập hợp pháp, có con dấu riêng, có tổ chức của bộ máy đầy đủ. Còn yếu tố độc lập về tài sản thì chi nhánh chưa đáp ứng được và cũng không thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, do đó, chi nhánh không phải là pháp nhân. Bản chất chi nhánh được thành lập nhằm thay mặt doanh nghiệp thực hiện một (hoặc một vài) chức năng của doanh nghiệp tại các địa phương doanh nghiệp không đặt trụ sở chính. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật VietLawyer, quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi để được giải đáp kịp thời.
Chi nhánh doanh nghiệp có con dấu riêng không? Chi nhánh doanh nghiệp có được ký hợp đồng không? - Công ty Luật VietLawyer xin tư vấn như sau: 1. Chi nhánh doanh nghiệp có con dấu riêng không? Khi thành lập chi nhánh thì doanh nghiệp có quyền tự quyết định việc chi nhánh đó có sử dụng con dấu hay không tùy thuộc vào nhu cầu hoạt động. Theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về dấu của doanh nghiệp như sau: "Dấu của doanh nghiệp 1. Dấu bao gồm dấu được làm tại cơ sở khắc dấu hoặc dấu dưới hình thức chữ ký số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. 2. Doanh nghiệp quyết định loại dấu, số lượng, hình thức và nội dung dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị khác của doanh nghiệp. 3. Việc quản lý và lưu giữ dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty hoặc quy chế do doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc đơn vị khác của doanh nghiệp có dấu ban hành. Doanh nghiệp sử dụng dấu trong các giao dịch theo quy định của pháp luật." Bên cạnh đó, hiện nay cũng chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định bắt buộc chi nhánh có con dấu riêng. Do đó, trong quá trình hoạt động thì chi nhánh không bắt buộc phải có con dấu riêng. Song thực tế các chi nhánh của doanh nghiệp hiện nay đa phần đều sử dụng con dấu riêng để thuận tiện trong các hoạt động của doanh nghiệp nói chung và chi nhánh nói riêng. 2. Chi nhánh doanh nghiệp có được ký hợp đồng không? Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân nên không thể nhân danh chính mình ký hợp đồng được. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật của công ty có thể lập ủy quyền cho người đứng đầu chi nhánh làm đại diện theo ủy quyền của công ty, nhân danh công ty ký kết hợp đồng. Khoản 5 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân như sau: "Chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân 1. Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân. 2. Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân. 3. Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện trong phạm vi do pháp nhân giao, bảo vệ lợi ích của pháp nhân. 4. Việc thành lập, chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân phải được đăng ký theo quy định của pháp luật và công bố công khai. 5. Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền. 6. Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh, văn phòng đại diện xác lập, thực hiện." Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền. Như vậy, người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện không đương nhiên có quyền đại diện cho chi nhánh ký kết hợp đồng mà quyền này chỉ phát sinh khi có ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty. Phạm vi và thời hạn ủy quyền là do người đại diện theo pháp luật của công ty quyết định. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật VietLawyer, quý khách hàng có nhu cầu vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ.
 
hotline 0936 645 695