Tất cả sản phẩm

Trong thực tế kinh doanh, không ít trường hợp hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa như trước. Vậy khi phát sinh tranh chấp, liệu bên nhận hàng có phải tiếp tục thanh toán hay không? Căn cứ khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự 1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản." Đồng thời, Điều 24 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: "Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó." Như vậy, pháp luật hiện hành không bắt buộc mọi giao dịch mua bán đều phải được lập thành hợp đồng giấy có ký tên, đóng dấu thì mới có giá trị. Trong nhiều trường hợp, việc các bên tiếp tục thực hiện giao dịch trên thực tế vẫn có thể được xem là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng. Ví dụ: Sau khi hợp đồng hết thời hạn hiệu lực nhưng bên bán vẫn tiếp tục giao hàng, bên mua vẫn nhận hàng, đối chiếu công nợ, thanh toán hoặc trao đổi qua email, tin nhắn về việc giao dịch thì những hành vi này có thể được xem là sự tiếp tục thực hiện quan hệ thương mại giữa các bên. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào hợp đồng cũ mà còn xem xét toàn bộ quá trình giao dịch thực tế để xác định có phát sinh quyền và nghĩa vụ hay không?  Ngoài ra, pháp luật thương mại còn ghi nhận: "Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại." Đây là cách thức giao dịch được các bên lặp đi lặp lại trong thời gian dài và mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền, nghĩa vụ của nhau. Chẳng hạn, trước đây các bên thường thực hiện việc giao hàng trước, đối chiếu công nợ sau; hoặc đặt hàng qua email, xác nhận qua bảng kê mà không ký trực tiếp. Nếu phương thức này đã được duy trì ổn định trong quá trình hợp tác thì dù hợp đồng cũ đã hết hiệu lực, Tòa án vẫn có thể xem xét đây là căn cứ xác định quan hệ giao dịch tiếp tục tồn tại. Lưu ý: Để được công nhận trách nhiệm thanh toán, bên yêu cầu phải chứng minh được việc giao dịch thực tế vẫn tiếp tục diễn ra theo thông lệ trước đó. Nếu trước đây các bên có thỏa thuận hoặc duy trì thông lệ bắt buộc phải có xác nhận, chữ ký, đóng dấu trên bảng kê, biên bản hoặc chứng từ vận chuyển thì các tài liệu phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực cũng cần đáp ứng hình thức này hoặc có chứng cứ tương đương chứng minh bên còn lại đã chấp nhận giao dịch. Ngược lại, nếu chứng từ do một bên tự lập, không có xác nhận của bên còn lại và cũng không có căn cứ thể hiện việc tiếp tục thuê dịch vụ, nhận hàng hoặc thanh toán thì rất khó xác định trách nhiệm thanh toán phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực. Do đó, trong hoạt động thương mại, dù hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ theo thông lệ cũ thì trách nhiệm thanh toán vẫn có thể phát sinh. Việc có được pháp luật công nhận hay không sẽ phụ thuộc vào hành vi thực tế của các bên và các chứng cứ chứng minh quá trình giao dịch liên tục sau khi hợp đồng hết hạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ việc thực hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng. Theo quy định của pháp luật, hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo khoản 1, Điều 8 Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 123/2020 quy định về hóa đơn chứng từ, theo đó: Hóa đơn giá trị gia tăng được hiểu là hóa đơn giá trị gia tăng (hay còn gọi là hóa đơn đỏ, hóa đơn VAT) là chứng từ do người bán lập để ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp, phục vụ cho việc kê khai và nộp thuế GTGT. Hóa đơn GTGT được sử dụng bởi các tổ chức, cá nhân áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, áp dụng cho các hoạt động: - Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong nội địa. - Hoạt động vận tải quốc tế. - Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu. - Xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài. - Hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Như vậy, các giao dịch được thực hiện bởi cá nhân, tổ chức khi có thu chi phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng để có dữ liệ cho cơ quan thuế quản lý. Tuy nhiên, nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức vì những mục đích khác nhau mà đã thực hiện hành vi mua hóa đơn giá trị gia tăng dù trên thực tế không phát sinh giao dịch. 1. Quy định các hành vi mua bán hóa đơn giá tăng Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS), Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số Điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính và chứng khoán, như sau: - Căn cứ Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC, quy định mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: “3. Các hành vi qui định tại Điều 164a của BLHS được hiểu như sau: a) In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả; b) Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định; c) Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: c.1) Mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; c.2) Mua, bán hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; c.3) Mua, bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; c.4) Mua, bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn.” Về chủ thể thực hiện các hành vi trên, bao gồm: Cá nhân bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc người của tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; người của tổ chức nhận in hoặc đặt in hóa đơn; cá nhân hoặc người của tổ chức mua hàng hóa, dịch vụ. 2. Về hình thức xử lý hành vi mua bán trái phép hóa đơn giá trị gia tăng Căn cứ điều 203 Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; g) Tái phạm nguy hiểm. 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau: a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và g khoản 2 Điều này , thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; d) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.” Như vậy, từ quy định trên hành vi mua bán hóa đơn giá trị gia tăng cấu thành tội mua bán trái phép hóa đơn thì hành vi mua bán hóa đơn phải thuộc trong các trường hợp: Dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số; Hóa đơn, chứng từ ghi nội dung từ 10 số đến 30 số; Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thì phạt tiền từ 50.000.000đ đến 200.000.000đ; hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, trong phạm tội thuộc các trường hợp tại khoản 2 như: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên; thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên; gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng các điều kiện về số lượng, giá trị hoặc mức độ thiệt hại theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng, không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Trong thời gian vừa qua, xôn sao trên mạng xã hội về hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học. Vậy hành vi trên có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý liên quan: Theo quy định khoản 4 Điều 5 Luật an toàn thực phẩm 2010 quy định: “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.” Theo đó hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc không rõ nguyên nhân để sản xuất thuộc hành vi bị cấm theo quy định. Đối với tình huống trên, hành vi đưa thịt lợn bệnh vào trường học vi phạm điều cấm của luật gây ảnh hưởng đến nhiều chủ thể trong đó là các em học sinh, mầm non. Đối với hành vi trên, mức xử lý vi phạm như sau: Căn cứ theo quy định khoản 1, 3 điều 6 Luật an toàn thực phẩm 2010 như sau: “1. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật. …. 3. Mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm; tiền thu được do vi phạm mà có bị tịch thu theo quy định của pháp luật.” Về hình thức xử phạt: 1. Về xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ khoản 3, 4, 5, 6, 7 Điều 4 Nghị 115/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá dưới 10.000.000 đồng. 4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 5. Phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. 6. Hình thức xử phạt bổ sung: a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này; b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 tháng đến 12 tháng đối với vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này; c) Tước quyền sử dụng Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm từ 20 tháng đến 24 tháng đối với sản phẩm thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc tiêu hủy nguyên liệu, thực phẩm vi phạm quy định tại Điều này; b) Buộc thu hồi bản tự công bố sản phẩm đối với sản phẩm thuộc diện tự công bố sản phẩm vi phạm quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này.” Như vậy, đối với hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để sản xuất, chế biến thực phẩm tùy theo mức độ vi phạm, cũng như giá trị sản phẩm để xử phạt hành chính. Ngoài ra, còn áp dụng quy định về xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như sau: Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất từ 1 đến 3 tháng đối với việc sử dụng nguyên liệu là sản phẩm từ động vật, thực vật, chất, hóa chất không thuộc loại dùng làm thực phẩm để sản xuất, chế biến thực phẩm;Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đỉnh chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm từ 10 đến 12 tháng đối với hành vi phạt tiền từ 05 lần đến 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này trong trường hợp áp dụng mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị sản phẩm vi phạm mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài biện pháp xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, còn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. 2. Về trách nhiệm hình sự Căn cứ điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau: “Ðiều 317. Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …..  b.  Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.” Đối chiếu với vụ việc “tuồn thịt lợn bệnh vào trường học”, có thể đưa ra ý kiến tư vấn như sau, về hành vi vi phạm, nếu cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện việc thu mua lợn chết do bệnh, dịch bệnh, sau đó giết mổ, chế biến và cung cấp vào bếp ăn trường học thì hành vi này thuộc trường hợp “sử dụng động vật chết do bệnh để chế biến thực phẩm”. Trường hợp các đơn vị cung cấp suất ăn hoặc thực phẩm cho nhà trường vẫn phân phối thịt lợn khi đã biết rõ nguồn gốc không đảm bảo an toàn thì thuộc hành vi “cung cấp, bán thực phẩm mà biết rõ có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh”. Về yếu tố lỗi, điều luật yêu cầu người thực hiện hành vi phải “biết rõ” nguồn gốc thực phẩm là từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh. Trong thực tiễn, yếu tố này có thể được chứng minh thông qua các tình tiết như: thu mua lợn bệnh với giá rẻ bất thường, không có giấy kiểm dịch, có hành vi che giấu nguồn gốc hoặc hợp thức hóa giấy tờ. Nếu chứng minh được yếu tố nhận thức này thì xác định là lỗi cố ý trực tiếp và đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi chỉ bị xử lý hình sự khi giá trị thực phẩm vi phạm từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, hoặc dưới mức này nhưng người vi phạm đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về cùng hành vi mà chưa được xóa án tích. Đối với bếp ăn trường học, đặc biệt là các trường có tổ chức ăn bán trú, giá trị thực phẩm cung cấp thường lớn, do đó trên thực tế rất dễ vượt ngưỡng định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp, hành vi nêu trên không chỉ xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà còn trực tiếp đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, trong đó đối tượng bị ảnh hưởng là học sinh – nhóm người chưa phát triển về thể chất và có sức đề kháng yếu. Đây là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể được xem xét khi lượng hình hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 317, bao gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trường hợp hành vi gây hậu quả nghiêm trọng như ngộ độc thực phẩm hàng loạt, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều học sinh thì có thể bị áp dụng các khung hình phạt nặng hơn theo các khoản tiếp theo của điều luật. Căn cứ khoản 2 Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” Với vụ việc trên, hiện nay cơ quan điều tra vẫn đang điều tra, xác minh làm rõ về hành vi sai phạm. Tuy nhiên, đánh giá khách quan về vụ việc tuồn thịt lợn bệnh vào trường học thì không chỉ dừng lại ở khoản 1 nêu trên mà có căn cứ chứng minh sẽ áp dụng khoản 2 Điều 317 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm tù để xử lý và giải quyết.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.    
Tôi có một mảnh đất rộng 400m2 với giá trị 10 tỷ đồng. Hiện tại, tôi muốn dùng sổ đỏ của mảnh đất này để góp vốn thành lập công ty cổ phần. Vậy, xin hỏi tôi muốn dùng sổ đỏ để góp vốn thành lập công ty cổ phần có được không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Điều 34. Tài sản góp vốn 1. Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 2. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật.” Theo quy định trên, quyền sử dụng đất là một trong những tài sản góp vốn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ có cá nhân, tố chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật. Điều kiện để góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2024 được quy định như sau:  Khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất: 1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật; c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự; d) Trong thời hạn sử dụng đất; đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2024 ông được sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để góp vốn thành lập công ty nhưng phải đảm bảo về chủ sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản là mảnh đất trên. Ngoài ra còn đảm bảo về các quy định điều kiện góp vốn bằng quyền sử dụng đất.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Hiện nay, hành vi mở phòng khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép ngày càng tràn lan. Cụ thể, hàng loạt phòng khám, cơ sở nha khoa ở Đắk Lắk hoạt động không có giấy phép hoạt động bị xử phạt, đình chỉ hoạt động. Vậy các hành vi có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sai phạm này không?.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan.  Theo quy định tại khoản 15 Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2023, một trong những hành vi bị cấm là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa khi “không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động, không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép,…”. I. Quy định về mức xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền): Căn cứ khoản 6 Điều 39 Nghị định 117/2020 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế. Đối với hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mức xử phạt từ phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành không có giấy phép hoạt động vẫn cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là đình chỉ cơ sở hoạt động trong thời hạn 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi  cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh .   II. Quy định về xử lý hình sự Căn cứ quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác 1. Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Như vậy, tùy vào mức độ, hậu quả tổn thất mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không có giấy phép hoạt động gây ra để truy cứu trách nhiệm.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.      
Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp tại Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định thêm tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ quy định tại Điều 5 Thông tư số 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: 1. Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. 2. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. 3. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Như vậy, so với quy định cũ Thông tư số 60/2025/TT-BYT đã quy định tiêu chí để xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội đáp ứng các tiêu chí trên trong tương lai.  Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Trong thời gian gần đây, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm giao thông liên tục được điều chỉnh, thay thế bằng các Nghị định mới. Đáng chú ý, việc bãi bỏ Nghị định 100/2019/NĐ-CP khiến nhiều người đặt ra câu hỏi: mức xử phạt hiện nay có gì thay đổi so với trước? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026. Điểm đáng chú ý, tại Nghị định 81/2026/NĐ-CP quy định bãi bỏ Nghị định 100/2019/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 123/2021/ NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng). Tuy nhiên, về bản chất, các quy định của Nghị định 100 đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trước đó. Cụ thể, tại Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ mà vẫn giữ lại các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Đến ngày 22/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 336/2025/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đường bộ cũng tiếp tục điều chỉnh và bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt tại Nghị định 100/2019/ NĐ-CP. Như vậy, các quy định trước đây trong Nghị định 100 đã được chuyển sang các nghị định chuyên ngành riêng, áp dụng theo từng lĩnh vực cụ thể. Về mức xử phạt, theo thông tin từ cơ quan chức năng, việc bãi bỏ Nghị định 100 không làm thay đổi mức xử phạt vi phạm giao thông đường bộ hiện hành. Lý do là các quy định về xử phạt thực tế đã được áp dụng theo các nghị định mới từ trước đó, đặc biệt là từ thời điểm Nghị định 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày 01/01/2025). Đáng chú ý, quy định pháp luật mới bổ sung cơ chế trừ điểm và phục hồi điểm giấy phép lái xe, thay vì chỉ áp dụng hình thức xử phạt tiền như trước. Sau nhiều lần được sửa đổi, bổ sung và phân tách theo từng lĩnh vực quản lý, Nghị định 100/2019/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định Nghị định 168/2024/ NĐ-CP đã bãi bỏ một số quy định xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ và Nghị định 81/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, Nghị định 100/2019/NĐ-CP chính thức hết hiệu lực từ ngày 15/5/2026 . Mức xử phạt về cơ bản không thay đổi, nhưng cơ chế quản lý đã có sự điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và phù hợp hơn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn giải đáp.
Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là vấn đề mà nhiều cá nhân, hộ kinh doanh quan tâm. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải nộp thuế, mà phụ thuộc vào mức doanh thu theo quy định của pháp luật. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Ngưỡng doanh thu được miễn thuế TNCN Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định: ”Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả cá nhân đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm người đại diện hộ kinh doanh (sau đây gọi là cá nhân kinh doanh) có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân.” Như vậy, nếu có doanh thu trong năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên hộ, cá nhân kinh doanh vẫn phải tiến hành kê khai thuế,  thông báo doanh thu thực tế cho cơ quan thuế theo quy định. Lưu ý: Không phải nộp thuế không đồng nghĩa với việc không thực hiện thủ tục thuế. 2. Trường hợp phải nộp thuế TNCN Khi doanh thu trong năm vượt trên 500 triệu đồng, cá nhân kinh doanh bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân. Công thức: 👉 Thuế TNCN = Thu nhập tính thuế × Thuế suất Trong đó: - Thu nhập tính thuế = Doanh thu – Chi phí hợp lý; - Chi phí hợp lý là các khoản chi phục vụ hoạt động kinh doanh, có đầy đủ chứng từ hợp lệ. - Mức thuế suất áp dụng theo doanh thu (1) Doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỷ đồng: 15% (2) Doanh thu trên 3 tỷ đến 50 tỷ đồng: 17% (3) Doanh thu trên 50 tỷ đồng: 20% Lưu ý: Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định = (Doanh thu - 500 triệu) x 5%) Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.  
Công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể, chủ doanh nghiệp còn nghĩa vụ gì? Trong thực tế, không ít doanh nghiệp sau một thời gian kinh doanh thua lỗ hoặc gặp khó khăn đã “đóng cửa” ngừng hoạt động nhưng lại chưa thực hiện thủ tục giải thể theo quy định pháp luật. Nhiều chủ doanh nghiệp cho rằng chỉ cần ngừng kinh doanh là không còn nghĩa vụ gì. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc ngừng hoạt động không đồng nghĩa với việc chấm dứt tư cách pháp lý. Vậy trong trường hợp công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể, chủ doanh nghiệp còn phải thực hiện những nghĩa vụ nào? Trước vướng mắc này, bài viết dưới đây của Luật Phương Bình sẽ phân tích và làm rõ các quy định pháp luật có liên quan. 1. Cơ sở pháp lý Luật Doanh nghiệp 2020 Luật Quản lý thuế 2019 Bộ luật Lao động 2019 2. Ngừng hoạt động có làm chấm dứt nghĩa vụ pháp lý không? Theo Điều 206 và Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp chỉ chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý khi hoàn tất thủ tục giải thể hoặc bị Tòa án tuyên bố phá sản. Việc “ngừng hoạt động” trên thực tế (không kinh doanh, đóng cửa trụ sở) nhưng chưa làm thủ tục giải thể thì doanh nghiệp vẫn đang tồn tại trên hệ thống đăng ký kinh doanh. Do đó, các nghĩa vụ pháp lý vẫn tiếp tục phát sinh. 3. Nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp khi công ty chưa giải thể 3.1. Nghĩa vụ về thuế Theo Luật Quản lý thuế 2019, doanh nghiệp vẫn phải: Kê khai thuế định kỳ (kể cả khi không phát sinh doanh thu vẫn phải nộp tờ khai). Nộp các khoản thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp (nếu có). Thực hiện quyết toán thuế khi chấm dứt hoạt động. Nếu không thực hiện, cơ quan thuế có thể: Xử phạt vi phạm hành chính; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu trốn thuế. 3.2. Nghĩa vụ đối với người lao động Theo Bộ luật Lao động 2019, nếu doanh nghiệp ngừng hoạt động: Phải thanh toán đầy đủ tiền lương, trợ cấp thôi việc (nếu có); Hoàn tất thủ tục chốt sổ bảo hiểm xã hội; Thanh toán các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động. Việc tự ý ngừng hoạt động mà không giải quyết quyền lợi cho người lao động có thể bị xử phạt hành chính và buộc khắc phục hậu quả. 3.3. Nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ Theo Điều 208 Luật Doanh nghiệp 2020, khi giải thể doanh nghiệp phải thanh toán các khoản nợ theo thứ tự ưu tiên. Nếu chưa giải thể thì: Doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ với đối tác; Không được tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ; Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ chưa thanh toán. 3.4. Nghĩa vụ về đăng ký kinh doanh Trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, theo Luật Doanh nghiệp 2020, phải thông báo bằng văn bản đến Phòng Đăng ký kinh doanh. Nếu không thông báo mà tự ý ngừng hoạt động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Nếu doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, cơ quan đăng ký kinh doanh có thể đưa vào diện “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” và xử lý theo quy định. 4. Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong từng loại hình Doanh nghiệp tư nhân: Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Công ty TNHH, công ty cổ phần: Chủ sở hữu/cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, trừ trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật như trốn thuế, tẩu tán tài sản. *) Nhận xét: Trong trường hợp doanh nghiệp không còn khả năng tiếp tục hoạt động, chủ doanh nghiệp nên: Thực hiện thủ tục tạm ngừng kinh doanh đúng quy định nếu muốn duy trì pháp nhân. Tiến hành thủ tục giải thể theo đúng trình tự pháp luật nếu chấm dứt hoạt động hoàn toàn. Hoàn tất nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ với người lao động trước khi nộp hồ sơ giải thể. Việc để doanh nghiệp “treo” nhiều năm không giải thể có thể dẫn đến nợ thuế, tiền phạt tăng dần và phát sinh trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng. Kết luận: Công ty ngừng hoạt động nhưng chưa giải thể không đồng nghĩa với việc chấm dứt mọi nghĩa vụ. Doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, lao động, thanh toán nợ và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp cần chủ động hoàn tất thủ tục pháp lý để tránh rủi ro về sau. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
KINH NGHIỆM ÔN THI KỲ KIỂM TRA TẬP SỰ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư không phải là một kỳ thi đánh đố kiến thức hàn lâm, mà là một bài kiểm tra toàn diện về tư duy hành nghề, kỹ năng áp dụng pháp luật và thái độ nghề nghiệp. Người vượt qua kỳ thi không hẳn là người học nhiều nhất, mà là người chuẩn bị đúng trọng tâm và biết cách làm bài. Dưới đây là những kinh nghiệm được hệ thống lại theo từng môn thi. 1. MÔN KỸ NĂNG LUẬT SƯ Đây là môn khiến nhiều thí sinh lo lắng nhất vì yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức tố tụng và kỹ năng thực tiễn. 1.1. Phương pháp ôn tập hiệu quả Cấu trúc đề thi gồm: Phần bắt buộc: Dân sự (thường 4 câu) Phần tự chọn: Hình sự hoặc Thương mại (thường 4 câu) → Đa số thí sinh lựa chọn Hình sự vì quen thuộc hơn. Điều quan trọng cần ghi nhớ: Đề thi không lặp lại nội dung, nhưng gần như giữ nguyên cấu trúc. Vì vậy, chiến lược hiệu quả nhất không phải đọc luật tràn lan, mà là: Sưu tầm đề thi các năm gần đây. Giải đề trong điều kiện như thi thật. Sau mỗi câu, tra cứu căn cứ pháp lý chính xác. Ghi chú lại vị trí điều luật để hình thành phản xạ. Khi luyện nhiều đề, bạn sẽ nhận ra đề thường xoay quanh các nhóm vấn đề như: Thẩm quyền giải quyết Thời hiệu Hoãn phiên tòa Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hướng bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi Soạn luận cứ Môn này tuyệt đối không thể học vẹt. Nếu nền tảng tố tụng còn yếu, cần củng cố trước khi bước vào giai đoạn luyện đề chuyên sâu. 1.2. Có nên tham gia lớp ôn thi? Nếu có điều kiện, việc tham gia lớp ôn luyện sẽ giúp bạn: Được cung cấp tài liệu trước buổi học. Tự làm đề ở nhà trước khi nghe phân tích. Hiểu cách giám khảo chấm điểm. Học kỹ thuật trình bày theo đúng barem. Lớp học không thay thế quá trình tự học, nhưng giúp bạn hiểu cách làm bài đúng hướng, tránh mất điểm oan. 1.3. Cách trình bày trong bài thi Giám khảo chấm theo từng ý. Vì vậy, hình thức trình bày ảnh hưởng trực tiếp đến điểm số. Nên: Gạch đầu dòng từng ý rõ ràng. Mỗi ý xuống dòng, thụt vào đầu dòng. Có căn cứ pháp luật cụ thể. Lập luận đầy đủ, không trả lời một dòng cho xong. Nhiều thí sinh viết rất nhiều nhưng không trúng trọng tâm. Viết dài không quan trọng. Viết đúng và đủ ý mới quyết định điểm số. 2. MÔN ĐẠO ĐỨC LUẬT SƯ (Môn có thể “giữ điểm” nếu chuẩn bị đúng cách) Nội dung thi căn cứ theo quy định của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, xoay quanh Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. 2.1. Cấu trúc đề thi 15 câu trắc nghiệm – 30 điểm Lý thuyết (nêu và phân tích quy tắc, lấy ví dụ) – 40 điểm Tình huống – 30 điểm Chỉ cần học thuộc 32 quy tắc, bạn đã có nền tảng vững chắc để đạt từ 50–60 điểm. 2.2. Cách học thuộc 32 quy tắc Thời gian khuyến nghị: 1–1,5 tháng trước kỳ thi. Phương pháp hiệu quả: Nhẩm lại mỗi ngày. Nghe audio lặp lại nhiều lần. Ôn liên tục để tránh “học trước quên sau”. Thực tế đề thi từng ra thẳng nội dung một quy tắc cụ thể (ví dụ Quy tắc 4 – Tham gia hoạt động cộng đồng). Ai học thuộc gần như nắm chắc điểm phần này. 2.3. Câu hỏi phân tích quy tắc Muốn đạt điểm cao, không chỉ dừng ở việc chép lại quy tắc mà cần: Giải thích ý nghĩa của quy tắc. Phân tích mục đích bảo vệ khách hàng và uy tín nghề. Đưa ví dụ thực tiễn minh họa. Nhận diện hậu quả nếu vi phạm. Nếu mục tiêu chỉ là đạt 50 điểm → tập trung học thuộc. Nếu mục tiêu 70–80 điểm → phải phân tích sâu và có lập luận. 2.4. Câu hỏi tình huống Dạng phổ biến: “Luật sư X có vi phạm không? Phân tích.” Để làm tốt phần này cần: Thuộc 32 quy tắc. Biết thêm các quy định tại Điều 5, Điều 9 Luật Luật sư. Tham khảo các quyết định xử lý kỷ luật luật sư để học cách viện dẫn. Khi đã nắm chắc quy tắc, phần tình huống trở nên khá dễ vì chỉ là thao tác đối chiếu hành vi với quy định. 3. MÔN HỒ SƠ THỰC HÀNH (VẤN ĐÁP) (Môn có tỷ lệ rớt thấp nếu chuẩn bị nghiêm túc) 3.1. Cách chấm điểm Hình thức hồ sơ: 30 điểm Tóm tắt vụ việc: 20 điểm Trả lời vấn đáp: 50 điểm Điểm số phụ thuộc nhiều vào mức độ bạn thực sự hiểu hồ sơ. 3.2. Chuẩn bị hồ sơ Nên chọn vụ việc: Đã có bản án. Thuộc lĩnh vực bạn làm nhiều. Bạn đã từng tham gia nghiên cứu. Hồ sơ phải tuân thủ quy định của Liên đoàn Luật sư Việt Nam: Font Times New Roman, size 14. Khổ A4, căn lề chuẩn. Tối thiểu 8 trang (phần nội dung chính). Đóng bìa cứng gọn gàng. Chỉ đưa tài liệu có giá trị chứng minh. Không làm hồ sơ quá dày gây rối. 3.3. Tóm tắt trước giám khảo Thời gian chỉ 4–5 phút. Cách luyện: Tóm tắt theo trình tự thời gian. Nhấn mạnh vấn đề pháp lý trọng tâm. Tập nói và bấm giờ trước khi thi. Không nên đọc lại nguyên văn hồ sơ. 3.4. Trả lời câu hỏi vấn đáp Giám khảo thường hỏi: Quan điểm về khởi tố/khởi kiện Hướng bào chữa hoặc bảo vệ. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Thời hiệu khởi kiện. Yêu cầu của đương sự. Cách trả lời chuẩn: Căn cứ pháp luật → Phân tích áp dụng → Kết luận rõ ràng. Giám khảo không hỏi để đánh đố, mà để kiểm tra bạn có thực sự nghiên cứu hồ sơ hay không. 4. NHỮNG SAI LẦM CẦN TRÁNH 4.1. Bỏ sót câu hỏi Do tâm lý hoặc phân bổ thời gian kém. Giải pháp: Đọc kỹ toàn bộ đề. Ghi nháp số lượng câu. Soát lại trước khi nộp bài. 4.2. Ghi tên thật vào bài thi Vi phạm quy chế → bị trừ 50% điểm. Trong luận cứ chỉ nên ghi: Luật sư X Luật sư A/B Tuyệt đối không ghi tên thật. 4.3. Overthinking khi đọc đề Suy diễn ngoài dữ kiện đề bài khiến trả lời lệch hướng. Nguyên tắc vàng: Bám sát câu hỏi. Không thêm thắt. Không tự đặt giả định. KẾT LUẬN Kỳ kiểm tra tập sự không đánh đố. Người đậu thường là người: Nắm chắc cấu trúc đề. Ôn đúng trọng tâm. Trình bày rõ ràng, có căn cứ. Không vi phạm quy chế. Chuẩn bị hồ sơ nghiêm túc và trung thực. 5 TỪ KHÓA VƯỢT KỲ THI Cấu trúc – Luyện đề – Thuộc quy tắc – Hiểu hồ sơ – Bám đề Giữ được 5 nguyên tắc này, bạn không chỉ vượt qua kỳ thi, mà còn xây dựng được nền tảng vững vàng cho hành trình hành nghề luật sư phía trước. Trên đây là một số chia sẻ của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn
PHÂN BIỆT TỘI ĐÁNH BẠC VÀ TỘI TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT Đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay, diễn ra dưới nhiều hình thức như đánh bài, cá độ, lô đề, cá cược qua mạng. Trên thực tế, nhiều người còn nhầm lẫn giữa tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc, dẫn đến hiểu sai về trách nhiệm pháp lý phải chịu.Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Tội đánh bạc KN: Tội đánh bạc là hành vi tham gia các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trái phép, dưới bất kỳ hình thức nào, khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Căn cứ pháp lý: Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Dấu hiệu pháp lý cơ bản: + Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự; + Hành vi: Trực tiếp tham gia đánh bạc trái phép; + Giá trị: Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc từ 5 triệu đồng trở lên, hoặc dưới 5 triệu nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc có tiền án về hành vi này; + Mặt chủ quan: Lỗi cố ý. *) Hình phạtNgười phạm tội đánh bạc có thể bị: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng; Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; Hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. 2. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc Khái niệm : Tội tổ chức đánh bạc là hành vi chủ mưu, cầm đầu, điều hành hoặc tạo điều kiện cho người khác đánh bạc trái phép, nhằm thu lợi bất chính hoặc duy trì hoạt động đánh bạc. Căn cứ pháp lý :Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). *) Dấu hiệu pháp lý cơ bản Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi: Rủ rê, lôi kéo người khác; chuẩn bị địa điểm, phương tiện; thu tiền xâu; quản lý, điều hành hoạt động đánh bạc; Tính chất: Có tổ chức, mang tính chuyên nghiệp, quy mô lớn; Mục đích: Thu lợi bất chính. *) Hình phạt: Người phạm tội tổ chức đánh bạc có thể bị: + Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng; + Hoặc phạt tù từ 01 năm đến 10 năm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. 3. Phân biệt tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc Tiêu chí Tội đánh bạc Tội tổ chức đánh bạc Hành vi Trực tiếp tham gia đánh bạc Điều hành, tổ chức, tạo điều kiện Vai trò Người chơi Chủ mưu, cầm đầu, quản lý Mức độ nguy hiểm Thấp hơn Cao hơn Điều luật áp dụng Điều 321 BLHS Điều 322 BLHS Mức hình phạt Nhẹ hơn Nghiêm khắc hơn 4. Tình huống thực tế A cùng một số người tham gia đánh bài ăn tiền tại nhà riêng, tổng số tiền dùng để đánh bạc là 10 triệu đồng. Trường hợp này, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo Điều 321 BLHS. Trong khi đó, B là người đứng ra chuẩn bị địa điểm, rủ rê người chơi, thu tiền xâu sau mỗi ván bài. Hành vi của B có dấu hiệu của tội tổ chức đánh bạc theo Điều 322 BLHS, với mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với A. Kết luận: Tội tổ chức đánh bạc có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn tội đánh bạc do tạo điều kiện cho nhiều người tham gia, gây mất trật tự xã hội và phát sinh nhiều hệ lụy tiêu cực. Việc phân biệt rõ hai tội danh này giúp bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tóm lại tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc đều là hành vi bị pháp luật hình sự nghiêm cấm. Tuy nhiên, hai tội danh này khác nhau về bản chất hành vi, vai trò của người phạm tội và mức hình phạt áp dụng. Việc hiểu rõ sự khác biệt này không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật của người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Trong thực tế, nhiều người cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) là một loại tài sản hoặc giấy tờ có giá do gắn với quyền sử dụng đất có giá trị lớn. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác về mặt pháp lý. Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Căn cứ theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể như sau: "Điều 105. Tài sản 1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. 2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai." Theo đó, để được coi là tài sản, một đối tượng phải thuộc một trong bốn nhóm nêu trên. Trong khi đó, tại khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định rằng: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của các luật có liên quan được thực hiện theo quy định của Luật này có giá trị pháp lý tương đương như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Luật này.” Như vậy, sổ đỏ không phải là tài sản, mà chỉ là hình thức pháp lý để ghi nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Ngoài ra, tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011, Tòa án nhân dân tối cao nêu rõ: các giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải là giấy tờ có giá theo quy định của pháp luật dân sự. Do đó, việc chiếm giữ sổ đỏ không được xem là tranh chấp về tài sản theo nghĩa thông thường, và Tòa án không thụ lý yêu cầu buộc trả lại các giấy tờ này như đối với tài sản. Tóm lại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) không phải là tài sản, cũng không phải là giấy tờ có giá. Nó chỉ là chứng thư pháp lý do Nhà nước cấp để xác nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695