Tất cả sản phẩm

Tình huống: Tháng 3/2024 tôi có cho bạn tôi vay 50.000 USD, hai bên có lập giấy nợ và thỏa thuận về thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực là ngày ký. Tuy nhiên, do bên vay không trả cho tôi, nên tôi gửi đơn khởi kiện ra Tòa án để đòi tiền, vậy trong trường hợp trên Tòa án có tuyên giấy vay nợ trên vô hiệu vì sử dụng ngoại hối để giao dịch không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Đối với giao dịch cho mượn tài sản hay cho vay tiền là Đô la Mỹ giữa các bên vào tháng 3/2024, thì: Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 được sửa đổi bổ sung quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”  Ngoài ra, căn cứ quy định tại Điều 3, 4 Thông tư số: 32/2013/TT-NHNN được sửa đổi Thông tư 75/2025/TT-NHNN, như sau: “Điều 3. Nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt NamTrên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 Thông tư này, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối. (Hình ảnh minh họa) Điều 4. Các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam1. Cơ quan hải quan, công an, bộ đội biên phòng và các cơ quan Nhà nước khác tại các cửa khẩu của Việt Nam và kho ngoại quan được niêm yết bằng ngoại tệ và thu bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ người không cư trú đối với các loại thuế, phí thị thực xuất nhập cảnh, phí cung ứng dịch vụ và các loại phí, lệ phí khác theo quy định của pháp luật.2. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối (sau đây gọi tắt là tổ chức tín dụng được phép) được giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận bằng ngoại hối trong phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.3. Tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối được giao dịch và niêm yết bằng ngoại tệ trong phạm vi cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.4. Người cư trú là tổ chức có tư cách pháp nhân được điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển khoản giữa tài khoản của tổ chức đó với tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân và ngược lại.5. Người cư trú được góp vốn bằng ngoại tệ chuyển khoản để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.6. Người cư trú thực hiện hợp đồng ủy thác nhập khẩu, xuất khẩu theo quy định sau:a) Người cư trú nhận ủy thác nhập khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác nhập khẩu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng nhập khẩu từ bên ủy thác nhập khẩu;b) Người cư trú nhận ủy thác xuất khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác xuất khẩu bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản đối với giá trị hợp đồng xuất khẩu cho bên ủy thác xuất khẩu.7. Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài thực hiện theo quy định sau:a) Đối với chi phí ngoài nước liên quan đến việc thực hiện gói thầu thông qua đấu thầu quốc tế theo quy định tại Luật Đấu thầu: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.b) Đối với việc thực hiện gói thầu theo quy định của pháp luật về dầu khí: nhà thầu được chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ chủ đầu tư, nhà thầu chính để thanh toán, chi trả và chuyển ra nước ngoài.8. Người cư trú là doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện theo quy định sau:a) Được báo giá, định giá, ghi giá dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ bên mua bảo hiểm đối với hàng hóa, dịch vụ phải mua tái bảo hiểm ở nước ngoài;b) Trường hợp phát sinh tổn thất đối với phần tái bảo hiểm ra nước ngoài, người cư trú là tổ chức mua bảo hiểm được nhận số tiền bồi thường bằng ngoại tệ chuyển khoản từ công ty tái bảo hiểm nước ngoài thông qua doanh nghiệp bảo hiểm để thanh toán các chi phí khắc phục tổn thất ở nước ngoài.9. Người cư trú là tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế được niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa. Ngoại tệ sử dụng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.10. Người cư trú là tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan được niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ.11. Người cư trú là tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết giữa hai bên thực hiện theo quy định sau:a) Được thay mặt cho hãng vận tải nước ngoài báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ đối với cước phí vận tải hàng hóa quốc tế. Việc thanh toán phải thực hiện bằng đồng Việt Nam;b) Được chi hộ bằng ngoại tệ chuyển khoản để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại cảng biển quốc tế, khu cách ly tại sân bay quốc tế;c) Được chi hộ bằng ngoại tệ tiền mặt để trả lương, thưởng, phụ cấp cho người không cư trú do hãng tàu biển nước ngoài ủy quyền.12. Người cư trú là doanh nghiệp chế xuất thực hiện theo quy định sau:a) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu hoặc để xuất khẩu, trừ hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu. Doanh nghiệp trong nước được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi bán hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất;b) Được báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán, nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản với doanh nghiệp chế xuất khác.13. Người cư trú là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch được niêm yết, quảng cáo giá hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử, ấn phẩm chuyên ngành (không bao gồm thực đơn và bảng giá dịch vụ) chỉ sử dụng tiếng nước ngoài.14. Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.15. Người không cư trú là cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự được niêm yết bằng ngoại tệ và thu phí thị thực xuất nhập cảnh, các loại phí, lệ phí khác bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.16. Người không cư trú thực hiện theo quy định sau:a) Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác;b) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú. Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú.c) Nhà đầu tư nước ngoài được đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ chuyển khoản khi tham gia đấu giá trong các trường hợp sau:(i) Mua cổ phần tại doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;(ii) Mua cổ phần, phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;(iii) Mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Trường hợp trúng đấu giá, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển vốn đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối để thanh toán giá trị mua cổ phần, phần vốn góp. Trường hợp đấu giá không thành công, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài số tiền đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ sau khi đã trừ đi các chi phí phát sinh liên quan (nếu có).17. Đối với các trường hợp liên quan đến an ninh, quốc phòng, dầu khí và các trường hợp cần thiết khác, tổ chức được phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) xem xét, chấp thuận bằng văn bản căn cứ vào tình hình thực tế và tính chất cần thiết của từng trường hợp theo hồ sơ, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 4a Thông tư này. Vì vậy, giữa các bên xác lập quan hệ mượn ngoại tệ vào tháng 3/2024 với số tiền 50.000 USD đã vi phạm điều cấm của pháp luật, nên giao dịch này vô hiệu theo quy định tại Điều 117, 122, 123 Bộ luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, giao dịch giữa bạn và bên vay về việc vay ngoại tệ là giao dịch vô hiệu. Về giải quyết hậu quả của giao dịch trên, do đây là giao dịch vô hiệu theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 nên: “2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.” Như vậy, bên vay phải trả lại cho bạn số tiền là 50.000 USD. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được tư vấn.    
Tình huống: Tôi có cho một người bạn vay 10 cây vàng. Thời điểm cho vay, hai bên chỉ thỏa thuận về số lượng vàng cho vay, không thỏa thuận về lãi suất và có lập hợp đồng vay tài sản với thời hạn trả nợ là 02 năm. Nay sắp đến thời hạn thanh toán, bạn tôi không đồng ý trả lại 10 cây vàng mà đề nghị quy đổi số vàng đã vay thành tiền theo giá vàng tại thời điểm vay để thanh toán. Tôi không đồng ý vì giá vàng hiện nay đã tăng cao, dẫn đến giữa hai bên phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu tôi khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án sẽ buộc bên vay phải trả lại 10 cây vàng đã vay hay được phép thanh toán bằng tiền theo giá trị của số vàng tại thời điểm vay? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. Ý kiến pháp lý: Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định: “1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”.Trong tình huống nêu trên, đối tượng của hợp đồng vay là vàng (vật), khi đến hạn trả thì bạn của bạn phải trả số vàng theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng là 10 cây vàng. Việc bạn của bạn đề nghị quy đổi số vàng đã vay thành tiền tại thời điểm vay để thanh toán là không đúng quy định của pháp luật và cũng không đúng với thỏa thuận mà hai bên đã quy định trong hợp đồng.  Trường hợp hai bên không thể thương lượng hay hòa giải về hướng xử lý thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bên vay trả lại cho bạn số vàng đã vay. Tuy nhiên Tòa án vẫn quy đổi vàng thành tiền theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm để tính án phí, chi phí tố tụng theo quy định Đối với nghĩa vụ trả lãi chậm do bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì: Trong trường hợp Tòa án quyết định bên vay trả lại vàng cho bên cho vay thì không quyết định bên vay phải chịu lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp hợp đồng vay tài sản là vàng có thỏa thuận lãi thì nghĩa vụ trả lãi được thực hiện theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật.Như vậy, đối với trường hợp của bạn, việc bên vay yêu cầu thanh toán bằng tiền theo giá trị 10 cây vàng tại thời điểm vay là không có căn cứ pháp luật nếu. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, bên vay có nghĩa vụ trả lại đúng loại tài sản đã vay, tức là 10 cây vàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được thì bạn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả vàng.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.   
Trong thời gian gần đây, nhiều hộ gia đình tự ý xây dựng nhà ở hoặc công trình phụ trên đất trồng lúa. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật đất đai hiện hành, hành vi này được xem là vi phạm và có thể bị xử phạt với mức tiền rất cao, thậm chí buộc phải tháo dỡ công trình. Để giúp người dân hiểu rõ hơn, Luật Phương Bình xin giải đáp chi tiết như sau: Đất trồng lúa là loại đất được Nhà nước quản lý chặt chẽ vì liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực quốc gia. Do đó, việc chuyển đất lúa sang bất kỳ mục đích nào khác như xây nhà, làm xưởng, sân bê tông hay các công trình khác chỉ được phép khi có quyết định chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người sử dụng đất đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Khi người dân tự ý sử dụng đất lúa cho mục đích khác mà không được cấp phép, hành vi này sẽ được coi là tự ý chuyển mục đích sử dụng đất và bị xử lý theo Nghị định 123/2024/NĐ-CP. Hậu quả pháp lý của hành vi này có thể bao gồm việc bị phạt tiền theo diện tích vi phạm, bị buộc tháo dỡ công trình và trả lại đất về trạng thái ban đầu, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không thực hiện được các giao dịch mua bán, tặng cho hoặc thế chấp trên phần đất vi phạm. Mức xử phạt khi tự ý chuyển đất lúa sang mục đích khác Mức phạt được quy định tại Điều 8 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, tùy thuộc vào loại mục đích chuyển đổi và diện tích đất vi phạm. 1. Trường hợp chuyển đất trồng lúa sang loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp (Ví dụ: đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản hay đất trồng cây hàng năm khác...) - Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,5 héc ta; - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta; - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 01 héc ta đến dưới 03 héc ta; - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 03 héc ta trở lên. 2. Trong trường hợp chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã (Ví dụ như xây lán trại, nhà xưởng nhỏ, nhà kho hoặc sân bê tông,...) mức phạt sẽ cao hơn: - Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05 héc ta; - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta; - Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 01 héc ta đến dưới 02 héc ta; - Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ trên 02 héc ta trở lên. 3. Trường hợp chuyển đất trồng lúa sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã Đây là hành vi phổ biến nhất khi xây nhà trên đất lúa và mức phạt là cao nhất: - Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta; - Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta; - Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta; - Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; - Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên. * Lưu ý: Vi phạm ở khu vực phường, thị trấn sẽ bị áp dụng mức phạt gấp đôi so với cùng diện tích tại khu vực xã. Ngoài việc bị xử phạt hành chính, người vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Cơ quan chức năng có quyền yêu cầu tháo dỡ công trình và trả lại hiện trạng đất lúa ban đầu, trừ các trường hợp đặc biệt theo khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai. Nếu người vi phạm thu lợi từ công trình trái phép, chẳng hạn như cho thuê hoặc kinh doanh trên đất vi phạm, toàn bộ khoản lợi đó phải nộp lại cho Nhà nước. Tự ý xây nhà hoặc bất kỳ công trình nào trên đất lúa đều là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt rất nặng, đi kèm với nghĩa vụ tháo dỡ – khôi phục hiện trạng. Để tránh rủi ro pháp lý, người sử dụng đất nên làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đúng quy định trước khi xây dựng. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Việc hợp thửa đất thường phát sinh khi người sử dụng đất muốn mở rộng diện tích, sắp xếp lại quy hoạch sử dụng, thuận tiện cho xây dựng nhà ở hoặc chuẩn bị các giao dịch chuyển nhượng. Tuy nhiên, không phải thửa đất nào cũng đủ điều kiện để hợp thửa, khiến nhiều người băn khoăn: “Thửa đất chưa có sổ đỏ thì có được hợp thửa không?” Theo khoản 1 và khoản 3 Điều 220 Luật Đất đai 2024, việc hợp thửa đất chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc và điều kiện do pháp luật quy định.   " Điều 220: Tách thửa đất, hợp thửa đất 1. Tách thửa đất, hợp thửa đất phải bảo đảm các nguyên tắc, điều kiện sau đây: a) Thửa đất đã được cấp một trong các loại giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; b) Thửa đất còn trong thời hạn sử dụng đất; c) Đất không có tranh chấp, không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp đất có tranh chấp nhưng xác định được phạm vi diện tích, ranh giới đang tranh chấp thì phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp của thửa đất đó được phép tách thửa đất, hợp thửa đất; d) Việc tách thửa đất, hợp thửa đất phải bảo đảm có lối đi; được kết nối với đường giao thông công cộng hiện có; bảo đảm cấp nước, thoát nước và nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý. Trường hợp người sử dụng đất dành một phần diện tích của thửa đất ở hoặc thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất để làm lối đi, khi thực hiện việc tách thửa đất hoặc hợp thửa đất thì không phải thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất để làm lối đi đó. ... 3. Trường hợp hợp thửa đất thì ngoài các nguyên tắc, điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Việc hợp các thửa đất phải bảo đảm có cùng mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, hình thức trả tiền thuê đất trừ trường hợp hợp toàn bộ hoặc một phần thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất với nhau và trường hợp hợp thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất với thửa đất ở; b) Trường hợp hợp các thửa đất khác nhau về mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, hình thức trả tiền thuê đất thì phải thực hiện đồng thời với thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, chuyển hình thức trả tiền thuê đất để thống nhất theo một mục đích, một thời hạn sử dụng đất, một hình thức trả tiền thuê đất theo quy định của pháp luật. ...”   Như vậy, để được hợp thửa đất, người sử dụng đất cần bảo đảm điều kiện chính như sau: Thứ nhất, Thửa đất phải có Giấy chứng nhận hợp lệ Chỉ những thửa đất đã được cấp một trong các loại Giấy chứng nhận sau mới được xem xét tách hoặc hợp: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ hồng cũ); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trường hợp chưa có sổ, người sử dụng đất phải làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận trước. Thứ hai, Thửa đất còn thời hạn sử dụng Đất phải còn trong thời hạn sử dụng ghi trên Giấy chứng nhận. Trường hợp đất có thời hạn mà đã hết hạn, người sử dụng đất cần gia hạn theo đúng quy định trước khi thực hiện thủ tục tách hoặc hợp thửa. Thứ ba, Đất không có tranh chấp hoặc kê biên Đất phải đang trong tình trạng pháp lý ổn định, không tranh chấp, không bị kê biên để thi hành án và không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong trường hợp có tranh chấp nhưng xác định rõ được phạm vi diện tích, ranh giới phần tranh chấp thì phần còn lại không tranh chấp vẫn có thể thực hiện tách hoặc hợp thửa. * Lưu ý: Pháp luật vẫn cho phép tách/hợp nếu đáp ứng: • Có thể xác định rõ phạm vi, diện tích, ranh giới phần đang tranh chấp; • Phần còn lại không tranh chấp của thửa đất đó được phép tách thửa đất, hợp thửa đất; Thứ tư, Bảo đảm về hạ tầng kỹ thuật  Thửa đất sau khi tách hoặc hợp phải bảo đảm có lối đi hợp pháp, được kết nối với đường giao thông công cộng hiện hữu và đáp ứng các nhu cầu hạ tầng thiết yếu như cấp nước, thoát nước. Nếu người sử dụng đất chừa một phần diện tích trong thửa đất ở hoặc thửa đất có đất ở và đất khác để làm lối đi riêng thì không phải chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích này. * Lưu ý: Nếu người sử dụng đất dành một thửa đất trong thửa đất ở (hoặc thửa đất có đất ở và đất khác) để làm lối đi thì không cần xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích chừa làm lối đi. Ngoài ra, - Việc hợp các thửa đất phải bảo đảm có cùng mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, hình thức trả tiền thuê đất trừ trường hợp hợp toàn bộ hoặc một phần thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất với nhau và trường hợp hợp thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất với thửa đất ở; - Trường hợp hợp các thửa đất khác nhau về mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, hình thức trả tiền thuê đất thì phải thực hiện đồng thời với thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, chuyển hình thức trả tiền thuê đất để thống nhất theo một mục đích, một thời hạn sử dụng đất, một hình thức trả tiền thuê đất theo quy định của pháp luật. Như vậy, thửa đất chưa có Sổ đỏ thì không được hợp thửa. Trường hợp chưa có Sổ đỏ, người sử dụng đất phải làm thủ tục xin cấp Sổ đỏ trước, sau đó mới đủ điều kiện thực hiện tách hoặc hợp thửa đất. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Việc bôi nhọ danh dự người khác trên mạng xã hội có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các quy định pháp luật về việc xử lý hành vi bôi nhọ danh dự trên mạng xã hội. Danh dự nhân phẩm của mỗi con người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo quy định tại Điều 34 BLDS 2015: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín - Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. - Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. - Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. - Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ. - Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng. - Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.” Bên cạnh đó, Luật An ninh mạng mới được thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019 có quy định tại khoản 3 Điều 16 về những hành vi xâm phạm đến danh dự của người khác trên không gian mạng, thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm: - Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; - Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Hành vi sử dụng mạng xã hội (facebook) là hành vi trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Đối với hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác”. Bên cạnh đó, nếu đáp ứng đủ điều kiện cấu thành tội danh thì người có hành vi sử dụng mạng xã hội để bôi nhọ danh dự của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Tội Làm nhục người khác quy định tại Điều 155 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Hình thức xử lý hành vi bôi nhọ danh dự người khác trên mạng xã hội Buộc xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại khoản 5  Điều 34 Bộ luật dân sự 2015, khi một người bị thông tin không chính xác làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì có thể yêu cầu bác bỏ thông tin đó. Ngoài ra, còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin sai lệch xin lỗi, yêu cầu cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bôi nhọ danh dự người khác. Hành vi bôi nhọ danh dự của người khác có thể bị phạt vi phạm hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP đối với hành vi Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác; Tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về trật tự công cộng tại Nghị Định 144/2021/NĐ-CP Phạt tiền từ .2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng  đối với một trong những hành vi có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác Chịu trách nhiệm hình sự khi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác Nếu đủ căn cứ cấu thành tội danh, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 155 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung đối với các trường hợp: - Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác - Phạm tội 02 lần trở lên; - Đối với 02 người trở lên; - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; - Đối với người đang thi hành công vụ; - Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình; - Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; - Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%. - Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; - Làm nạn nhân tự sát. Đối với tội danh này, người phạm tội có thể chịu hình phạt từ mức phạt tiền 10.000.000 đồng lên đến mức phạt tù lên đến 5 năm trong trường hợp khiến cho nạn nhân phải tự sát. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Các yếu tố cấu thành tội phạm Tội làm nhục người khác Khách thể Khách thể mà tội phạm xâm phạm đến là danh dự, nhân phẩm của con người. Là yếu tố được pháp luật hình sự bảo vệ Chủ thể Chủ thể của tội là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Mặt khách quan Mặt khách quan của tội này được thể hiện qua hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác dưới các hình thức như lời nói (chửi bới, sỉ nhục,…) hoặc các hành động làm hạ thấp nhân cách, danh dự của người khác, làm cho người bị hại cảm thấy nhục nhã, xấu hổ. Mặt chủ quan Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý. Thấy trước hậu quả sẽ làm cho người khác bị xúc phạm nhân phẩm nặng nề nhưng vẫn để mặc cho hậu quả xảy ra. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ quân sự, các hành vi trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ đều bị xử lý nghiêm để đảm bảo tính công bằng và tuân thủ pháp luật. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nội dung này: Vào ngày 05/08/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 218 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng và cơ yếu. Nghị định này quy định cụ thể về việc xử phạt công dân Việt Nam có hành vi gian dối nhằm trốn tránh quyết định gọi nhập ngũ, bao gồm các mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm liên quan. Căn cứ theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 218/2025/NĐ-CP quy định: 2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a) Cản trở công dân thực hiện quyết định gọi nhập ngũ; quyết định gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự đủ điều kiện nhập ngũ, điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân theo quy định, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; b) Gian dối nhằm trốn tránh thực hiện quyết định gọi nhập ngũ; quyết định gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự đủ điều kiện nhập ngũ, đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân theo quy định. 3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành quyết định gọi nhập ngũ; quyết định gọi thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. 4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự; nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân đối với người có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.
Người nước ngoài có được thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam không? Việt Nam với nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ và nguồn lao động dồi dào là một thị trường đầy tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình này không chỉ đơn giản là nộp một vài giấy tờ. Nhà đầu tư cần tuân thủ các quy định chặt chẽ, đặc biệt là về ngành, nghề kinh doanh, tỷ lệ sở hữu vốn và các thủ tục pháp lý. Hôm nay Luật Phương Bình sẽ cùng bạn giải đáp thắc mắc. 1. Quy định pháp luật về việc thành lập doanh nghiệp của người nước ngoài Căn cứ theo quy định của Luật Đầu tư 2020 về việc đầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam: Điều 22. Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế 1. Nhà đầu tư thành lập tổ chức kinh tế theo quy định sau đây: a) Nhà đầu tư trong nước thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật tương ứng với từng loại hình tổ chức kinh tế; b) Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 9 của Luật này; c) Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. 2. Kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ khác có giá trị pháp lý tương đương, tổ chức kinh tế do nhà đầu tư nước ngoài thành lập là nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Vậy cá nhân nước ngoài có được coi là nhà đầu tư nước ngoài? Khoản 19 Điều 3 Luật đầu tư 2020 Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: ... 19. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Như vậy người nước ngoài được coi là nhà đầu tư và có quyền thành lập các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên cần đáp ứng các điều kiện nhất định. 2. Điều kiện đối với cá nhân nước ngoài khi thành lập tổ chức kinh tế Tại Điều 9 Luật Đầu tư 2020 quy định về điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài cần phải căn cứ vào Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm: Ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường; Ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện. Nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế; Hình thức đầu tư; Phạm vi hoạt động đầu tư; Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư; Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên. Nếu bạn cần hỗ trợ thêm về quy trình, thủ tục hoặc bất kỳ vấn đề pháp lý nào khác liên quan đến doanh nghiệp, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi qua website Công ty Luật Phương Bình hoặc hotline 0927625666. Chúng tôi luôn sẵn lòng tư vấn và hỗ trợ bạn!      
Bị trừ lương vì đi muộn – có vi phạm luật? Việc đi muộn là một vấn đề phổ biến trong môi trường làm việc và thường gây ra những tranh cãi giữa người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt là khi liên quan đến việc trừ lương. Vậy, việc trừ lương vì đi muộn có vi phạm pháp luật lao động Việt Nam hay không?   Các hình thức kỷ luật lao động Kỷ luật lao động được định nghĩa tại Điều 117 Bộ luật Lao động 2019 là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định. Căn cứ Điều 124 Bộ luật Lao động 2019, pháp luật lao động hiện hành chỉ thừa nhận bốn (04) hình thức xử lý kỷ luật lao động bao gồm: Khiển trách Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng Cách chức Sa thải Như vậy hiện nay pháp luật lao động chỉ thừa nhận 4 hình thức xử lý kỷ luật lao động nhưng trong đó không có hình thức trừ lương Các trường hợp khấu trừ tiền lương Pháp luật lao động quy định việc khấu trừ lương chỉ được phép trong những trường hợp rất hạn chế tại Điều 102 nhằm đảm bảo vệ quyền lợi cho người lao động: Điều 102. Khấu trừ tiền lương Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 Bộ luật này; Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình; Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt bược, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Trừ lương người lao động khi đi làm muộn có đúng pháp luật? Các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động được quy định tại Điều 127 Luật lao động 2019 bao gồm: Xâm phạm sức khỏe. danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phảm của người lao động; Phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động; Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã được giao kết hoặc pháp luật về lao động có quy định. Theo đó, việc trừ lương của người lao động vì lý do đi muộn là hành vi đã làm trái với quy định pháp luật. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền lợi của người lao động mà còn phải đối mặt với các chế tài xử phạt theo quy định. Để tránh những tranh chấp không đáng có và đảm bảo môi trường làm việc tuân thủ pháp luật, cả người lao động và người sử dụng lao động cần nắm vững các quy định liên quan. Trong trường hợp có vướng mắc hoặc cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay tới Công ty Luật Phương Bình hoặc gọi điện đến hotline 0927625666 để được đội ngũ chuyên gia của chúng tôi tư vấn và giải quyết kịp thời.
Khách hàng hỏi: "Chồng tôi vay nợ làm ăn không báo cho tôi biết. Nay ly hôn, chủ nợ gọi điện đòi tôi phải trả cùng. Tôi có phải liên đới trách nhiệm không?" Đây là một trong những băn khoăn phổ biến, đặc biệt khi các cặp vợ chồng quyết định "đường ai nấy đi". Việc xác định đâu là nợ chung và đâu là nợ riêng có ý nghĩa then chốt trong việc phân chia tài sản và nghĩa vụ khi ly hôn. Hãy cùng Vietlawyer phân tích rõ hơn về vấn đề này theo quy định pháp luật Việt Nam.   1. Phân biệt nợ chung và nợ riêng Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nợ của vợ chồng được chia thành hai loại chính: 1.2. Nợ chung của vợ chồng Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: 1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; 2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yêu của gia đình 3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; 4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình; 5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường; 6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan. Trong trường hợp nợ chung, vợ chồng có nghĩa vụ liên đới (cùng nhau) chịu trách nhiệm thanh toán, ngay cả khi ly hôn. 1.2. Nợ riêng của vợ hoặc chồng Căn cứ Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây: 1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; 2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại Khoản 4 Điều 37 của Luật này;  3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình; 4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng. Với nợ riêng, chỉ người có nghĩa vụ mới phải chịu trách nhiệm thanh toán bằng tài sản riêng của mình. Nếu không đủ tài sản riêng thì mới phải thanh toán bằng phần tài sản chung được chia cho người đó khi ly hôn. 2. Xác định tình huống trên là nợ chung hay nợ riêng Việc xác định khoản nợ của chồng là nợ chung hay nợ riêng phụ thuộc vào các yếu tố sau: Mục đích khoản vay: Đây là yếu tố cốt lõi. Nếu khoản vay này rõ ràng phục vụ cho việc kinh doanh riêng của chồng bạn mà không có bất kỳ lợi ích nào cho gia đình (ví dụ: kinh doanh thua lỗ một mình chịu, không có sự đóng góp nào cho chi phí sinh hoạt, con cái...) Việc sử dụng khoản vay: Khoản tiền vay đó đã được sử dụng như thế nào? Nếu nó được hòa vào tài khoản chung, hoặc sử dụng để mua sắm, đầu tư vào tài sản chung của vợ chồng, thì có thể bị xem xét là nợ chung, mặc dù bạn không trực tiếp biết về việc vay mượn. Tuy nhiên, nếu khoản tiền đó được sử dụng hoàn toàn cho mục đích cá nhân của chồng (ví dụ: để đầu tư vào một dự án kinh doanh mà bạn không tham gia và không có lợi ích, hoặc sử dụng vào mục đích riêng khác), thì đó sẽ là căn cứ để xác định là nợ riêng. Sự biết và đồng thuận của bạn: Việc chồng bạn "không báo cho tôi biết" là một chi tiết quan trọng. Nếu bạn có thể chứng minh được rằng bạn hoàn toàn không biết, không đồng ý, và khoản vay đó không phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình, thì khả năng cao bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm liên đới. Tóm lại nếu Tòa án xác định đây là nợ chung của vợ chồng, thì bạn vẫn có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho chủ nợ, ngay cả sau khi ly hôn. Việc phân chia tài sản chung sẽ bao gồm cả việc phân chia nghĩa vụ nợ này. Và nếu Tòa án xác định đây là nợ riêng của chồng bạn, thì bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ đó. Người chồng phải tự thanh toán bằng tài sản riêng của mình. Trong trường hợp tài sản riêng không đủ, thì sẽ thanh toán bằng phần tài sản chung được chia cho anh ấy khi ly hôn. Công ty Luật Phương Bình, với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm sẽ đem đến cho các bạn dịch vụ ly hôn trọn gói, giải quyết nhanh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp tối ưu nhất cho bạn. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ và giải quyết kịp thời.
KHÔNG SANG TÊN TÀI SẢN KHI GÓP VỐN – CẨN THẬN MẤT TRẮNG! Anh Nguyễn Văn K hỏi: "Tôi thành lập công ty TNHH với 2 người bạn, tôi góp vốn bằng chiếc ô tô cá nhân trị giá 700 triệu đồng. Xe vẫn đứng tên tôi, không làm thủ tục sang tên cho công ty. Xin hỏi, như vậy có được tính là tôi đã góp đủ vốn không?" Đây là câu hỏi mà nhiều người khởi nghiệp thường gặp phải. Luật Phương Bình sẽ giúp bạn làm rõ vấn đề này, bởi việc không sang tên tài sản khi góp vốn có thể dẫn đến những rủi ro pháp lý và tài chính nghiêm trọng.   1. Góp vốn bằng tài sản theo quy định pháp luật Theo Luật Doanh nghiệp 2020, việc góp vốn vào công ty không chỉ giới hạn ở tiền mặt mà còn bao gồm các loại tài sản khác. Điều 34 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: 1. Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 2. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật. Điều 35. Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn nhấn mạnh: 1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây: a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty theo quy định của pháp luật. Việc chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản, trừ trường hợp được thực hiện thông qua tài khoản. Như vậy, với trường hợp chiếc ô tô vẫn đứng tên cá nhân bạn, việc góp vốn chưa được xem là hợp lệ theo quy định pháp luật. 2. Điều kiện để góp vốn bằng ô tô hợp lệ Để chiếc ô tô của bạn được công nhận là tài sản góp đủ vốn, bạn cần thực hiện đầy đủ các bước sau: Định giá tài sản góp vốn: Giá trị chiếc ô tô (700 triệu đồng) cần được các thành viên sáng lập công ty thống nhất định giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp thực hiện. Giá trị này phải được ghi rõ trong Điều lệ công ty. Chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty: Đây là bước quan trọng nhất. Bạn phải làm thủ tục sang tên chiếc ô tô từ tên cá nhân bạn sang tên công ty tại cơ quan đăng ký xe. Việc này đảm bảo ô tô chính thức là tài sản của công ty, không còn là tài sản cá nhân của bạn. Lập biên bản giao nhận tài sản góp vốn: Sau khi hoàn tất thủ tục sang tên, công ty và bạn cần lập biên bản giao nhận tài sản góp vốn, ghi rõ thông tin xe, giá trị và xác nhận việc bàn giao. 3. Rủi ro khi không sang tên tài sản góp vốn Việc để ô tô vẫn đứng tên cá nhân bạn mà không làm thủ tục sang tên cho công ty tiềm ẩn nhiều hệ lụy nghiêm trọng: Không được tính là góp đủ vốn: Phần vốn góp bằng ô tô của bạn sẽ không được ghi nhận hợp lệ vào vốn điều lệ của công ty. Điều này có thể khiến công ty bị xử phạt hành chính do không góp đủ vốn theo đăng ký, và cá nhân bạn có thể bị giảm tỷ lệ sở hữu hoặc không được hưởng các quyền lợi tương ứng. Không hạch toán được chi phí: Mọi chi phí liên quan đến chiếc xe (xăng, bảo dưỡng, sửa chữa, khấu hao...) sẽ không được công ty hạch toán vào chi phí hợp lý để tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do xe không thuộc sở hữu của công ty. Điều này làm tăng nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp. Rủi ro tranh chấp tài sản: Trong trường hợp công ty có tranh chấp pháp lý hoặc phá sản, việc chiếc ô tô vẫn đứng tên cá nhân bạn sẽ gây khó khăn rất lớn trong việc chứng minh đây là tài sản của công ty, dẫn đến nguy cơ bạn "mất trắng" tài sản đã góp. Không được khấu hao tài sản: Công ty không thể thực hiện việc khấu hao tài sản này, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và nghĩa vụ thuế của công ty. Để đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật và tránh những rủi ro đáng tiếc, bạn cần khẩn trương hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu ô tô sang tên công ty. Nếu bạn cần hỗ trợ thêm về quy trình, thủ tục hoặc bất kỳ vấn đề pháp lý nào khác liên quan đến doanh nghiệp, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi qua website Công ty Luật Phương Bình hoặc hotline 0927625666. Chúng tôi luôn sẵn lòng tư vấn và hỗ trợ bạn!  
Chính phủ ban hành Nghị định 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2025 quy định về đăng ký doanh nghiệp. Trong đó, quy định về việc ủy quyền đăng ký doanh nghiệp phải xác thực điện tử, cụ thể:  Căn cứ theo Điều 12 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định về ủy quyền đăng ký doanh nghiệp như sau: Điều 12. Ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp Người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định sau đây: 1. Trường hợp ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kèm theo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Văn bản ủy quyền này không bắt buộc phải công chứng, chứng thực. 2. Trường hợp ủy quyền cho tổ chức thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, kèm theo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có bản sao hợp đồng ủy quyền cho tổ chức thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, giấy giới thiệu hoặc văn bản phân công nhiệm vụ của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. 3. Trường hợp ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính công ích thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, nhân viên bưu chính phải nộp bản sao phiếu gửi hồ sơ theo mẫu do doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích phát hành có chữ ký xác nhận của nhân viên bưu chính và người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp. 4. Trường hợp ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính không phải là bưu chính công ích thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì việc ủy quyền thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này. 5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định này. Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực điện tử thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao thẻ Căn cước hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ chiếu nước ngoài hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực của người ủy quyền. Như vậy, người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Theo quy định, người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định 168/2025/NĐ-CP. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.  
Chính phủ ban hành Nghị định 76/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 sửa đổi Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Bài viết dưới đây sẽ trình bày rõ về nội dung quy định trên:  Mức chuẩn trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội từ 01/7/2024 - Mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác. - Mức chuẩn trợ giúp xã hội áp dụng từ ngày 01/7/2024 là 500.000 đồng/tháng. Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp; bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác. - Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định: + Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định này; + Đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Như vậy, từ ngày 01/7/2024 mức chuẩn trợ giúp xã hội sẽ tăng từ 360.000 đồng lên 500.000 đồng.  (Điều 4 Nghị định 20/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 76/2024/NĐ-CP) Mức trợ cấp xã hội hằng tháng đối với các đối tượng bảo trợ xã hội từ 01/7/2024 Theo đó, khi tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng lên 500.000 đồng/tháng thì mức trợ cấp xã hội hàng tháng cũng có sự thay đổi như sau:    Điều 6. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng 1. Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này được trợ cấp xã hội hàng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Điều 4 Nghị định này nhân với hệ số tương ứng quy định như sau: a) Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi; - Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên. b) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này. c) Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 2,5 đối với đối tượng dưới 4 tuổi; - Hệ số 2,0 đối với đối tượng từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi. d) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này: Hệ số 1,0 đối với mỗi một con đang nuôi. đ) Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 60 tuổi đến 80 tuổi; - Hệ số 2,0 đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 5 từ đủ 80 tuổi trở lên; - Hệ số 1,0 đối với đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 5; - Hệ số 3,0 đối với đối tượng quy định tại điểm d khoản 5. e) Đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định này: - Hệ số 2,0 đối với người khuyết tật đặc biệt nặng; - Hệ số 2,5 đối với trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng; - Hệ số 1,5 đối với người khuyết tật nặng; - Hệ số 2,0 đối với trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng. g) Hệ số 1,5 đối với đối tượng quy định tại các khoản 7 và 8 Điều 5 Nghị định này. 2. Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức theo các hệ số khác nhau quy định tại khoản 1 Điều này hoặc tại các văn bản khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo đang nuôi con là đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 5 Nghị định này thì được hưởng cả chế độ đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 5 và chế độ đối với đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 5 Nghị định này. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0927.625.666 để được Luật sư tư vấn.  
 
hotline 0936 645 695