Tất cả sản phẩm

Trong thời gian yêu nhau, chị L nhiều lần hỏi vay tiền và đều được anh C chuyển khoản, với tổng số tiền lên đến 100 triệu đồng. Khi anh C nhiều lần đề nghị trả nợ, chị L không những không trả mà còn tỏ thái độ cáu gắt, khó chịu. Quá bức xúc, anh C dọa sẽ báo công an nếu chị tiếp tục không trả tiền, nhưng chị L thản nhiên đáp trả: "Báo đi, bố chả sợ!" 1. Thu thập chứng cứ. Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về nguồn chứng cứ như sau:“Nguồn chứng cứChứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử....”Đồng thời theo quy định tại khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: "Xác định chứng cứ...3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử...."--> Khi người vay cố tình không trả nợ, bên cho vay cần chủ động thu thập chứng cứ hợp pháp để bảo vệ quyền lợi. Các bằng chứng quan trọng bao gồm: sao kê giao dịch ngân hàng, tin nhắn (SMS, Zalo, Messenger) hoặc file ghi âm thể hiện việc hỏi vay, cam kết và thừa nhận nợ; cùng các nội dung nhắc nợ bị khước từ, trốn tránh hoặc thách thức. Đây là căn cứ pháp lý vững chắc để làm hồ sơ khởi kiện ra Tòa án. 2. Các phương án xử lý cụ thể. Ban đầu chúng ta có thể thảo thuận trên tinh thần thiện chí, tự nguyện để tìm ra hướng giải quyết vấn đề như liên lạc, gửi thông báo nhắc nhở, thương lượng phương án thanh toán. Trường hợp không thể thỏa thuận được thì bên cho vay có quyền khởi kiện bên vay ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.Theo điều 190 bộ luật tố tụng dân sự "1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)."Căn cứ Điều 11, Điều 14 và Điều 166 Bộ Luật Dân sự, người cho vay có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết, buộc bên vay phải chấm dứt hành vi vi phạm, thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản.Thời hiệu để gửi đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản tới Tòa án là 03 năm, kể từ ngày biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (thường tính từ ngày đến hạn trả nợ hoặc ngày bên vay cố tình không trảLưu ý: Nếu người vay có hành vi dùng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu để chiếm đoạt hoặc cố tình tẩu tán tài sản, bỏ trốn nhằm không trả nợ thì vụ việc có thể có dấu hiệu của trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Thời gian gần đây, các vụ việc gạch, đá, sắt thép từ các công trình xây dựng hoặc tháo dỡ nhà cửa rơi trúng người đi đường vẫn liên tiếp xảy ra, gây thương tích nghiêm trọng, thậm chí mất đi tính mạng. Phía sau mỗi tai nạn đó là câu hỏi pháp lý cấp bách: Khi sự cố xảy ra, ai là người phải gánh chịu trách nhiệm và bồi thường? 1. Về trách nhiệm bồi thường dân sự - Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác.+ Trước hết cần xác định ai trực tiếp gây ra việc tấm bê tông rơi xuống người đi đường và nguyên nhân vì sao xảy ra sự cố. Nếu người công nhân thực hiện không đúng quy trình, thiếu biện pháp bảo đảm an toàn dẫn đến tấm bê tông rơi xuống đường thì người trực tiếp thực hiện hành vi có thể phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do mình gây ra. 2. Nếu công nhân là người làm thuê cho đơn vị phá dỡ thì sao? - Theo Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 quy định:+ “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao..." + Sau khi bồi thường, pháp nhân CÓ QUYỀN yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định. => Vì vậy, nếu công nhân là người được đơn vị phá dỡ thuê và đang thực hiện công việc theo sự phân công của đơn vị, trách nhiệm bồi thường về nguyên tắc có thể đặt ra đối với đơn vị sử dụng người lao động/người làm công. Sau đó, đơn vị có thể xem xét trách nhiệm của người trực tiếp gây ra thiệt hại theo quy định pháp luật. 3. Chủ công trình có phải chịu trách nhiệm không? + Nếu chủ nhà chỉ thuê một đơn vị độc lập thực hiện việc phá dỡ và đơn vị này trực tiếp tổ chức, quản lý công việc => trách nhiệm có thể thuộc về đơn vị phá dỡ nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. + Nếu chủ công trình trực tiếp tổ chức việc phá dỡ, chỉ đạo công nhân hoặc có lỗi trong việc bảo đảm an toàn => trách nhiệm có thể thuộc về chủ công trình nếu lỗi phát sinh từ quá trình tổ chức thi công. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Vụ án Nguyễn Đức Anh và khoản bồi thường hơn 1,1 tỷ đồng. Ngày 6/10, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai đưa vụ án Nguyễn Đức Anh ra xét xử. Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ và toàn bộ diễn biến vụ án, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của bị cáo có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của các nạn nhân. Theo nội dung vụ án, Nguyễn Đức Anh đã sử dụng vũ khí quân dụng để thực hiện hành vi sát hại 3 mẹ con. Sau khi gây án, bị cáo bị cơ quan chức năng bắt giữ và tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.Kết thúc phiên tòa, Hội đồng xét xử tuyên Nguyễn Đức Anh tử hình về tội Giết người và 6 năm tù về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....” -->Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật  =>  Là vũ khí quân dụng.). Do hình phạt cao nhất được áp dụng là tử hình nên tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo là tử hình.Bên cạnh hình phạt hình sự, Tòa án cũng giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án. Theo đó, Nguyễn Đức Anh bị buộc bồi thường cho các bị hại và gia đình tổng số tiền hơn 1,1 tỷ đồng. 2. Bị cáo bị tử hình ai là người chịu trách nhiệm thi hành khoản bồi thường? Theo khoản 1 điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: “Trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án”.Khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án trong thời hạn quy định, chấp hành viên phải ra các quyết định thi hành án và tống đạt đến trại giam cho người phải thi hành án. Chấp hành viên phải xác minh xem người phải thi hành án có tài sản như nhà, đất… để kê biên đảm bảo thi hành án.Người bị thi hành án bị tử hình thì trách nghiệm bồi thường được giải quyết theo nguyên tắc sau:Căn cứ khoản 2 điều 41 Luật thi hành án dân sự, người thừa kế chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong phạm vi di sản do người bị tử hình để lại, không bắt buộc dùng tài sản riêng của mình để trả thay. Trong trường hợp người phải thi hành án có tài sản để lại cơ quan thì hành án dân sự sẽ xử lý tài sản đó để thi hành án. Việc xử lý tài sản di sản thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về phân chia di sản thừa kế hoặc những người thừa kế có thỏa thuận khác về việc thực hiện nghĩa vụ.Trường hợp người thân của người bị tử hình tự nguyện thi hành hoặc tự nguyện chuyển giao nghĩa vụ thi hành án căn cứ Điều 36 của Luật Thi hành án dân sựTheo điều 48 của Luật Thi hành án dân sự nếu người bị tử hình không có di sản để lại hoặc nghĩa vụ đó không được chuyển giao cho người thừa kế, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án với khoản bồi thường đó.Như vậy, người bị kết án tử hình vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự, và chính người đó (tù nhân mang án tử) là người có nghĩa vụ thi hành án bằng tài sản của mình, người thân không có nghĩa vụ bồi thường thay. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Khi cho người thân mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ / sổ đỏ) để vay tiền ngân hàng, nếu người vay không trả được nợ thì chủ đất có nguy cơ bị mất đất. Quyền sử dụng đất có thể bị kê biên, phát mại (bán đấu giá) để thu hồi nợ. 1. Bản chất pháp lý của việc “cho mượn sổ đỏ” vay tiền Trường hợp 1: chủ đất trực tiếp đứng tên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thế chấp nhằm bảo đảm cho ngĩa vụ trả nợ khoản vay bên mượn.Trường hợp 2: chu đất lập hợp đồng ủy quyền được công chứng cho bên mượn để người này thực hiện các giao dịch thế chấp và vay vốn tại ngân hàng. Điều kiện hợp đồng có hiệu lực thì các bên hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, văn bản phải được công chứng và phải đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký đất đai. 2. Người vay không trả nợ, ngân hàng có quyền xử lý đất không? Khi hợp đồng đã được giao kết hợp pháp, quyền sử dụng đất đã trở thành tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ.Theo quy định tại Điều 299 và Điều 317 Bộ luật Dân sự 2015, khi khoản vay đến hạn thanh toán mà bên vay vi phạm nghĩa vụ (không trả hoặc trả không đầy đủ cả nợ gốc lẫn lãi). Ngân hàng có đầy đủ quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Cơ quan thi hành án có thẩm quyền sẽ tiến hành kê biên, phát mại (bán đấu giá) quyền sử dụng đất đó.Chủ đất dù không trực tiếp nhận số tiền vay vẫn phải chịu rủi ro bị mất đất do đã cam kết dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản nợ của người khác 3. Xử lý như thế nào nếu trên đất có tài sản người khác Một vấn đề thường gặp là trên diện tích đất thế chấp có nhà ở, công trình xây dựng do thành viên khác trong gia đình (ví dụ: các con của chủ đất) tạo lập nhưng những người này không ký vào hợp đồng thế chấp. Khi phát mại toàn bộ thửa đất, số tiền thu được sẽ được ưu tiên phân bổ theo thứ tự sau:•    Ưu tiên thanh toán trước giá trị công trình, tài sản trên đất cho các chủ sở hữu hợp pháp không tham gia ký hợp đồng thế chấp.•    Thanh toán khoản nợ gốc và lãi cho phía Ngân hàng.•    Số tiền còn lại (nếu có) sẽ được hoàn trả cho bên thế chấp (chủ đất).•    Trường hợp số tiền phát mại vẫn không đủ bù đắp khoản nợ, bên vay tiền vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ trả nợ phần còn thiếu. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Có thể. Sau khi đã khởi kiện, nguyên đơn vẫn có thể sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, nhưng việc bổ sung phải nằm trong giới hạn pháp luật tố tụng cho phép. 1. Có được bổ sung yêu cầu khởi kiện không? Căn cứ Khoản 4 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về quyền của đương sự như sau:“4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này.”Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Các đương sự có quyền bảo lưu toàn bộ nội dung yêu cầu ban đầu đã nộp cho Tòa án. Hoặc đương sự có quyền sửa đổi, điều chình một phần hoặc toàn bộ nội dung yêu cầu. Ngoài ra có quyền bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ mới bên cạnh các yêu cầu đã có trước đó. Đương sự có quyền từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã đưa ra, làm chấm dứt việc Tòa án xem xét đối với phần yêu cầu bị rút. 2. Thế nào là “không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”? Phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu không đo lường bằng con số, mà được xác định dựa trên Quan hệ pháp luật (QHPL) tranh chấp được đưa ra giải quyết.Theo quy định của BLTTDS, tại khoản 1 Điều 188 BLTTDS quy định về phạm vi khởi kiện: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều  cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.” BLTTDS 2015 tại khoản 1 Điều 244 quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi  yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu.”Trường hợp 1: Không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.•    Cùng QHPL nhưng điều chỉnh về định lượng. VD: Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm (QHPL: Bồi thường/Đòi lại tài sản). Việc điều chỉnh từ 30m² lên 35m² sau khi đo đạc thực tế vẫn thuộc cùng một QHPL đòi lại diện tích đất bị lấn chiếm đó.•    Bổ sung yêu cầu phát sinh từ cùng QHPL hoặc QHPL liên quan. VD: Tranh chấp hợp đồng vay (QHPL: Vay tài sản). Việc bổ sung yêu cầu trả lãi chậm trả là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ QHPL vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.Trường hợp 2: vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu.Đưa ra một QHPL hoàn toàn mới, không liên quan đến QHPL đã khởi kiện ban đầu. VD: Ban đầu nguyên đơn khởi kiện đòi B trả nợ tiền vay (QHPL hợp đồng vay). Quá trình giải quyết, nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu B phải chia thừa kế một mảnh đất khác không liên quan đến khoản tiền vay. Đây là hai QHPL độc lập, việc bổ sung này bị xem là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trường hợp này sẽ không được HĐXX giải quyết vì không thể thu thập xác minh thêm chứng cứ. Nhưng đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu giải quyết quan hệ pháp luật đó Tóm lại, Vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu phải được hiểu là vượt quá phạm vi Quan hệ pháp luật tranh chấp ban đầu, chứ không phải vượt quá về mặt con số, diện tích hay số tiền. 3. Thời điểm bổ sung? Tại khoản 7 Mục IV Văn bản 01/2017/GĐ-TANDTC– Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.– Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong thực tế, có trường hợp người vay không còn tiền hoặc không có tài sản để thanh toán khoản nợ. Từ đó, nhiều người cho rằng “con nợ không có tài sản thì cũng không đòi được, khoản nợ coi như mất”. Tuy nhiên, không có khả năng thanh toán tại một thời điểm không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ trả nợ tự động chấm dứt. 1. Không có tài sản không làm mất nghĩa vụ trả nợ - Theo Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.”=>Người vay đến hạn nhưng không có tiền hoặc tài sản để thanh toán thì nghĩa vụ trả nợ vẫn còn. - Ngoài khoản tiền gốc, người vay còn có thể phải chịu lãi, lãi quá hạn hoặc khoản bồi thường nếu có căn cứ theo thỏa thuận và quy định pháp luật. 2. Không có tài sản hiện tại không đồng nghĩa với không thể thi hành án - Nếu chủ nợ khởi kiện => có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật => người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án. - Tại thời điểm thi hành án, người phải thi hành án CHƯA CÓ tài sản hoặc thu nhập để thi hành => cơ quan thi hành án dân sự xác minh điều kiện thi hành án => Sau này phát sinh tài sản, thu nhập hoặc CÓ điều kiện thi hành án => Việc thi hành án được tiếp tục theo quy định pháp luật. 3. Khi nào nghĩa vụ trả nợ mới chấm dứt? - Theo Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ có thể chấm dứt trong các trường hợp như:+ Nghĩa vụ được hoàn thành;+ Theo thỏa thuận của các bên;+ Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;+ Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Nghĩa vụ được bù trừ;+ Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;+ Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;+ Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;+ Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;+ Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;+ Trường hợp khác do luật quy định. Như vậy, việc người vay không có tài sản để trả nợ chỉ phản ánh tình trạng tài chính tại thời điểm đó, không phải căn cứ để khoản nợ tự động mất đi. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
“Đổi sổ đỏ sang sổ hồng” là cách gọi phổ biến của người dân đối với việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Khi thực hiện thủ tục này, người dân có thể phải nộp một số khoản phí, lệ phí theo quy định của từng địa phương.Vậy đổi sổ đỏ sang sổ hồng phải nộp những khoản nào? Hải Phòng hiện quy định mức thu cụ thể ra sao? 1. Đổi sổ đỏ sang sổ hồng có thể phải nộp những khoản phí nào? - Chi phí khi cấp đổi Giấy chứng nhận có thể gồm: + Lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận;+ Phí thẩm định hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận;+ Trường hợp hồ sơ phát sinh nhu cầu trích lục, khai thác tài liệu đất đai thì có thể phát sinh thêm khoản phí tương ứng.Mức thu cụ thể do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định. 2. Hải Phòng quy định chi phí đổi Giấy chứng nhận như thế nào? - Theo Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND thành phố Hải Phòng, lệ phí cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận và phí thẩm định hồ sơ được quy định riêng đối với cá nhân.Cụ thể, đối với cá nhân, mức thu khi cấp đổi Giấy chứng nhận như sau: Nội dung  Chỉ có đất Chỉ có tài sản Đất và tài sản Lệ phí cấp đổi Giấy chứng nhận 25.000 đồng 25.000 đồng 30.000 đồng Phí thẩm định hồ sơ cấp đổi 100.000 đồng 100.000 đồng 115.000 đồng Tổng cộng 125.000 đồng 125.000 đồng 145.000 đồng Mức lệ phí cấp đổi được quy định tại Phụ lục I, còn phí thẩm định hồ sơ cấp đổi được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND. 3. Cần lưu ý gì khi đổi sổ đỏ sang sổ hồng? - Theo Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP, việc cấp đổi Giấy chứng nhận được thực hiện trong những trường hợp pháp luật quy định. Do đó, người dân cần phân biệt giữa: + Cấp đổi Giấy chứng nhận: chủ yếu là thay Giấy chứng nhận đã cấp theo trường hợp thuộc diện cấp đổi;+ Cấp lại Giấy chứng nhận: áp dụng khi Giấy chứng nhận bị mất;+ Đăng ký biến động: áp dụng khi có thay đổi về người sử dụng đất, diện tích, tài sản, quyền sử dụng đất hoặc các nội dung khác theo quy định. 4. Mức thu phí, lệ phí bằng “0 đồng” khi? - Theo Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 28/7/2026 của HĐND thành phố Hải Phòng, đối với thủ tục hành chính được thực hiện qua hình thức trực tuyến, mức thu bằng 0 đồng đối với:+ Lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;+ Phí thẩm định hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Như vậy, nếu người dân tại Hải Phòng thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận theo hình thức trực tuyến, thì hai khoản lệ phí cấp Giấy chứng nhận và phí thẩm định hồ sơ nêu trên được áp dụng mức 0 đồng. - Trường hợp được miễn phí, lệ phí:+ Trẻ em, hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và người có công với cách mạng.+ Tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất do tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước hoặc tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng+ Hoặc mở rộng đường giao thông theo quy hoạch + Hoặc tặng cho quyền sử dụng đất để làm nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Như vậy, không phải trường hợp “đổi sổ đỏ sang sổ hồng” nào cũng có mức chi phí giống nhau. Người dân cần căn cứ vào từng địa phương sẽ có những quy định về các mức phí khác nhau, hình thức nộp hồ sơ và nội dung thực tế của thủ tục để xác định chính xác số tiền phải nộp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Tuy nhiên, việc yêu cầu thi hành án phải được thực hiện trong thời hiệu nhất định và có thể phát sinh phí, chi phí trong quá trình tổ chức thi hành. Vậy thời hiệu yêu cầu thi hành án là bao lâu và những khoản phí, chi phí này do ai chịu? Dưới đây là những quy định cần lưu ý. 1. Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm - Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025: Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. - Trường hợp ngoại lệ: + Người yêu cầu chứng minh được nguyên nhân không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng=> Thời gian xảy ra những sự kiện này không tính vào thời hiệu. + Cơ quan THADS đã gửi lại yêu cầu thi hành án do người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành => THÌ khi người phải thi hành án có điều kiện, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án trở lại và không bị tính thời hiệu 05 năm. 2. Phí và chi phí thi hành án do ai chịu? PHÍ:- Theo khoản 1 Điều 53 Luật Thi hành án dân sự và Điều 2 Thông tư 72/2026/TT-BTC quy định: đương sự (gồm người được thi hành án và người phải thi hành án) yêu cầu thi hành án phải nộp PHÍ thi hành án theo quy định của pháp luật KHI người được thi hành án nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định.- Người PHẢI thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với:+ Khoản tiền, tài sản đã thi hành trước khi có quyết định thi hành án + Trong thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định - Trường hợp thi hành án nhận được tiền sau thời gian nói trên thì người phải thi hành án phải chịu phí thi hành án theo giá ngạch từ 3% trên số tiền được nhận. (Người có công với cách mạng, người cao tuổi,  người khuyết tật, người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người ở vùng kinh tế khó khăn sẽ được miễn tiền phí thi hành án). CHI PHÍ: Bao gồm chi phí cưỡng chế và các chi phí khác- Theo khoản 2 Điều 53 Luật này, chi phí thi hành án do người PHẢI thi hành án chịu. - Người ĐƯỢC thi hành án chỉ chịu chi phí cưỡng chế đối với:+ Chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại tài sản khi họ yêu cầu thực hiện việc này hoặc trong trường hợp việc hoãn thi hành án làm chứng thư thẩm định giá hết hiệu lực theo quy định;+ Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ nếu bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu khoản chi phí này;+ Các chi phí khác theo quy định của Chính phủ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tóm tắt sự việc Rạng sáng 30/8, tài xế taxi Nguyễn Tiến Đạt (28 tuổi) đón nhóm của Vân (4 người) từ quán Lin Lounge79 (Móng Cái). Khi Vân đòi quay lại chở thêm người, anh Đạt từ chối vì xe đã chở tối đa 4 khách, dẫn đến cãi vã.Ngay trên xe, Vân, Ly, Trang và Tùng xông vào giật tóc, tát, đấm và dùng dép đánh anh Đạt. Tài xế hô "cướp", mở cửa chạy về phía quán để thoát thân nhưng bị nhóm Vân đuổi theo. Vợ chồng Kiên và Loan đi taxi phía sau thấy vậy liền xuống xe hùa vào đánh: Kiên dùng điếu cày đập vào đầu, Loan dùng điện thoại đập gáy và đá vào mặt khiến anh Đạt gục tại chỗ.Nhóm này tiếp tục kéo nạn nhân dậy, dồn vào hành lang quán đánh tiếp, đồng thời hung hãn tấn công cả người dân vào can ngăn.Anh Đạt sau đó được đồng nghiệp đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Móng Cái. Sáng cùng ngày, gia đình nạn nhân đã trình báo công an để điều tra, xử lý.Ngày 9/9, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh khởi tố 6 bị can về tội Gây rối trật tự công cộng, theo Điều 318 Bộ luật Hình sự. Trong đó, Lê Trung Kiên bị tạm giam để điều tra theo khoản 2 Điều 318. Hà Thúy Vân, Đỗ Thanh Tùng (chồng Vân), Nguyễn Thế Mạnh và Hà Ngọc Ly bị tạm giam theo khoản 1. Đặng Ngọc Loan, vợ Kiên, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.Đáng chú ý, Nguyễn Thị Mai Trang, người được xác định có liên quan vụ án hiện đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đang tổ chức truy tìm để xử lý theo quy định pháp luật. Vậy việc bỏ trốn để tránh bị bắt có phải là tình tiết làm nặng trách nhiệm hình sự? Bỏ trốn không phải là tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm hình sự vì:Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:a) Phạm tội có tổ chức;b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;d) Phạm tội có tính chất côn đồ;đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;g) Phạm tội 02 lần trở lên;h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên;k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;n) Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.Theo Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định theo phương pháp liệt kê khép kín từ điểm a đến điểm p. Đáng chú ý, hành vi “bỏ trốn” hiện không được quy định trực tiếp là một tình tiết tăng nặng.Mặc dù điểm p khoản 1 Điều 52 có đề cập đến “Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm”, nhưng về bản chất pháp lý, “xảo quyệt” là từ chỉ tính chất dối trá, lừa lọc và sử dụng thủ đoạn tinh vi khó lường. Việc một người thuần túy bỏ trốn để né tránh trách nhiệm không đương nhiên đồng nghĩa với việc họ có “hành động xảo quyệt”.Chính vì sự không đồng nhất này, quy định hiện hành đang tồn tại khoảng trống trong việc xử lý hành vi bỏ trốn. Đây cũng là lý do đang có các đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định nhằm ghi nhận rõ ràng hành vi bỏ trốn là một tình tiết tăng nặng độc lập, bảo đảm tính chặt chẽ và nâng cao hiệu quả răn đe của pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Tóm tắt vụ trồng 74kg cần sa ở Hưng Yên Ngày 14/9, Công an tỉnh Hưng Yên cho biết Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Công an tỉnh Hưng Yên) vừa phối hợp với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Bộ Công an) và Công an xã Phụng Công kiểm tra, bắt quả tang nhóm đối tượng có hành vi tổ chức trồng, mua bán trái phép cần sa tại thôn Hạ, xã Phụng Công. Kết quả điều tra ban đầu cho thấy, đường dây này đã thuê nhiều địa điểm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và TP. Hà Nội để phục vụ việc trồng, chăm sóc và thu hoạch cần sa. Các đối tượng chủ yếu giao dịch, trao đổi mua hạt giống, điều hành toàn bộ quy trình trồng trọt cũng như tiêu thụ sản phẩm qua các nền tảng mạng xã hội. Cần sa sau khi thu hoạch được đem phơi khô, cắt nhỏ, đóng gói rồi bán ra thị trường thông qua dịch vụ giao nhận và các kênh liên lạc trực tuyến. Theo thống kê từ cơ quan chức năng, trong khoảng thời gian từ tháng 2/2026 đến tháng 6/2026, nhóm đối tượng này đã bán trái phép 59,19 kg cần sa và tiếp tục tàng trữ 14,508 kg cần sa để chờ tiêu thụ kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy bị phát hiện và xử lý lên tới 73,698 kg cần sa – đây là vụ án có quy mô lớn nhất từ trước đến nay được phát hiện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Hiện tại, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chính thức ra quyết định khởi tố vụ án, đồng thời khởi tố nhiều bị can liên quan về các hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Trồng cây chứa chất ma túy". 2. Vậy khi nào chủ nhà phải chịu trách nhiệm hành chính và khi nào chịu trách nhiệm hình sự? Người thuê nhà tổ chức sản xuất, mua bán trái phép cần sa và bị công an bắt quả tang thì người cho thuê có bị liên đới chịu trách nhiệm hình sự hay không phụ thuộc vào việc người cho thuê nhà có biết hay không biết người đi thuê nhà có hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Trồng cây chứa chất ma túy". Trường hợp một người cho thuê biết người đi thuê sử dụng mua bán chất trái phép chất ma túy thì người cho thuê phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy “1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;b) Phạm tội 02 lần trở lên;c) Đối với người dưới 16 tuổi;d) Đối với 02 người trở lên;đ) Tái phạm nguy hiểm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”Để xử lý hình sự vụ trồng gần 74kg cần sa ở Hưng Yên chủ nhà theo Điều 256, Cơ quan điều tra phải chứng minh được: Chủ nhà có hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm (nhà, kho, đất) mà tại đó diễn ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy. Chủ nhà biết rõ người thuê nhà sử dụng địa điểm đó để tổ chức hoặc cho người khác sử dụng ma túy (cần sa) nhưng vẫn cho thuê, cho mượn hoặc mặc nhiên đồng ý/bỏ mặc. Trường hợp hai, các đối tượng cố tình hoạt động khép kín, rào chắn tỉ mỉ, lấy lý do thuê làm kho chứa hàng nông sản, thiết bị điện tử, chủ nhà không hề biết và không thể biết bên trong trồng,sử dụng cần sa. Vì thế chủ nhà sẽ không bị truy cứu trách nhịm hình sự theo Điều 256 chủ nhà chỉ có thể bị phạt vi phạm hành chính do thiếu trách nhiệm trong đăng ký tạm trú hoặc không kiểm tra, báo cáo lưu trú theo quy định.Trong vụ án Hưng Yên với quy mô kỷ lục 73,698 kg cần sa, việc chủ nhà có bị xử lý theo Điều 256  hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc Cơ quan điều tra chứng minh được chủ nhà có biết việc làm phi pháp của nhóm người thuê hay không. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tóm tắt kế hoạch quy hoạch đô thị Hà Nội Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội được định hướng theo các giai đoạn phát triển ngắn hạn đến năm 2035, trung hạn đến năm 2045, dài hạn đến năm 2065 và tầm nhìn chiến lược 100 năm. Quy hoạch hướng tới xây dựng Hà Nội theo mô hình không gian phát triển mở, đa tầng, đa lớp, đa cực và đa trung tâm, trong đó sông Hồng giữ vai trò trục cảnh quan sinh thái – văn hóa chủ đạo. Đồng thời, Hà Nội sẽ tập trung phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng, hình thành các cực tăng trưởng mới, phát triển đô thị thông minh, xanh và bền vững, tái thiết đô thị có chọn lọc, tăng cường liên kết vùng và khai thác hiệu quả không gian đô thị. Về tổng thể, Thủ đô được tổ chức theo mô hình “chùm đô thị hướng tâm”, với đô thị trung tâm là hạt nhân kết nối vùng và quốc tế, còn các đô thị vệ tinh đảm nhiệm những chức năng riêng, góp phần giãn dân, giảm áp lực cho khu vực nội đô và thúc đẩy phát triển đồng bộ toàn vùng Trình tự, thủ tục thu hồi đất nằm trong diện giải tỏa? Điều 87 và Điều 89 Luật Đất đai 2024 quy định trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Quy trình này kết hợp giữa vận động dân chủ, công khai minh bạch và biện pháp cưỡng chế hành chính trong trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành gồm các bước như sau:Giai đoạn 1: Phổ biến thông tin và ban hành Thông báo thu hồi đất (Điều 87)UBND cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và đơn vị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực dự kiến thu hồi đất để phổ biến mục đích dự án, chính sách bồi thường, dự kiến kế hoạch bồi thường và khu vực tái định cư. UBND cấp có thẩm quyền ban hành Thông báo thu hồi đất. Thời hạn thông báo trước là chậm nhất 90 ngày  đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp. Thông báo được gửi đến từng người có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung khu dân cư trong suốt thời gian bồi thường. Nếu không liên lạc được, thông báo sẽ được phát sóng trên đài phát thanh/truyền hình, đăng báo hàng ngày trong 3 số liên tiếp, niêm yết công khai và đăng lên cổng thông tin điện tử cấp huyện. Thông báo thu hồi đất có hiệu lực trong 12 tháng. Giai đoạn 2: Điều tra, khảo sát, đo đạc và kiểm đếm (Điều 87)UBND cấp xã phối hợp với đơn vị bồi thường và các cơ quan liên quan đo đạc, kiểm đếm, xác định diện tích, nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất, thiệt hại thực tế, thu nhập và nguyện vọng tái định cư, chuyển đổi nghề.Xử lý trường hợp không phối hợp kiểm đếm Cơ quan chức năng tiến hành vận động, thuyết phục trong 15 ngày (lập văn bản). Quá 10 ngày kể từ ngày kết thúc vận động mà người dân vẫn không phối hợp, Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành Quyết định kiểm đếm bắt buộc. Nếu tiếp tục không chấp hành, Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc. Giai đoạn 3: Lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Điều 87)Niêm yết công khai dự thảo phương án tại trụ sở UBND xã và nơi sinh hoạt chung trong thời hạn 30 ngày, sau đó tổ chức họp lấy ý kiến trực tiếp người dân. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày lấy ý kiến, nếu còn ý kiến không đồng ý, đơn vị bồi thường phối hợp với UBND cấp xã tổ chức đối thoại, tiếp thu, giải trình và hoàn thiện phương án.Phương án phải được thẩm định trước khi trình UBND cấp có thẩm quyền ban hành quyết định phê duyệt. Giai đoạn 4: Phổ biến phương án phê duyệt và Ban hành quyết định thu hồi đất (Điều 87)Đơn vị bồi thường gửi phương án đã phê duyệt (ghi rõ mức bồi thường, hỗ trợ, địa điểm/thời gian chi trả, bố trí tái định cư, thời gian bàn giao) đến từng người có đất thu hồi và niêm yết công khai tại UBND cấp xã. UBND cấp có thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi đất trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành các điều kiện (đã nhận tiền bồi thường, được bố trí tái định cư tại chỗ/nhận nhà đất tái định cư, tự nguyện bàn giao...). Nếu người dân không đồng ý hoặc không phối hợp thực hiện phương án bồi thường đã phê duyệt, UBND cấp xã cùng Mặt trận Tổ quốc vận động, thuyết phục trong 10 ngày. Quá 10 ngày kết thúc vận động mà không thành, UBND cấp có thẩm quyền sẽ ban hành Quyết định thu hồi đất.Giai đoạn 5: Bàn giao mặt bằng hoặc Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất (Điều 87 và Điều 89) Khi có quyết định thu hồi đất có hiệu lực, người có đất thu hồi phải chấp hành bàn giao. Nếu không bàn giao, cơ quan chức năng tiến hành vận động, thuyết phục trong 10 ngày. Quá 10 ngày từ khi kết thúc vận động bàn giao mà người có đất thu hồi vẫn không chấp hành, Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất.Điều kiện tiến hành cưỡng chế   - Quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực nhưng chưa được chấp hành sau khi đã vận động, thuyết phục.   - Quyết định cưỡng chế đã được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã và nơi sinh hoạt chung.   - Quyết định cưỡng chế đã có hiệu lực và người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định (hoặc có biên bản về việc từ chối nhận/vắng mặt).Quy định về thời gian và thủ tục cưỡng chế Chỉ thực hiện trong giờ hành chính, tuyệt đối không cưỡng chế từ 22 giờ đêm hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định, ngày lễ truyền thống đồng bào dân tộc, và trong thời gian 15 ngày trước và sau Tết Âm lịch. Quyết định cưỡng chế phải thi hành trong 10 ngày kể từ ngày người bị cưỡng chế nhận được quyết định hoặc ngày lập biên bản. Trình tự cưỡng chế:      - Chủ tịch UBND cấp huyện thành lập Ban cưỡng chế thu hồi đất (do Lãnh đạo UBND huyện làm Trưởng ban).     - Ban cưỡng chế vận động, đối thoại trước khi thi hành. Nếu chấp hành thì lập biên bản (thời hạn bàn giao đất chậm nhất là 30 ngày).     - Nếu cố tình không chấp hành, Ban cưỡng chế thực hiện cưỡng chế, buộc người bị cưỡng chế và tài sản ra khỏi khu đất. Trường hợp từ chối nhận tài sản thì lập biên bản, niêm phong và tổ chức bảo quản tài sản.     - Có sự tham gia giám sát của đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện và bảo vệ trật tự của lực lượng Công an. Kinh phí cưỡng chế do ngân sách nhà nước bảo đảm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1.    Một người có thể kí hai hợp đồng lao động được không? Có, một người hoàn toàn có thể kí hai hay nhiều hợp đồng lao động trở lên với nhiều người sử dụng lao động khác nhau, nhưng phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận trong các hợp đồng. Điều 19. Giao kết nhiều hợp đồng lao động1. Người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.2. Người lao động đồng thời giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.Như vậy, việc người lao động có thể kí nhiều hợp đồng lao động nhưng vẫn phải đảm bảo các điều kiện người lao động thực hiện đầy đủ các nội dung đã cam kết về thời gian làm việc, hiệu quả công việc… Trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động được giao kết đầu tiên. Việc tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định riêng của từng luật chuyên ngành có liên quan.2.    Khi kí nhiều hợp đồng lao động thì quy định về đóng bảo hiểm sẽ như thế nào?Việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động đồng thời giao kết nhiều hợp đồng lao động được thực hiện tuân thủ theo các quy định chuyên ngành của từng loại bảo hiểm.Theo Khoản 5 Điều 2 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện Luật Bảo hiểm xã hội.  Đối với chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động được giao kết đầu tiên. Trong trường hợp hợp đồng lao động đầu tiên đang tạm hoãn thực hiện mà các bên không có thỏa thuận về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian tạm hoãn, người lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo thứ tự về thời gian có hiệu lực của các hợp đồng được ký kết tiếp theo.Khác với bảo hiểm xã hội bắt buộc, đối với bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động ở từng hợp đồng lao động đều có trách nhiệm phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khi xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người lao động sẽ được giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo nguyên tắc đóng - hưởng theo quy định ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695