Tất cả sản phẩm

Chi Hà hỏi: Con tôi 15 tuổi đi xe máy điện và ko đội mũ bảo hiểm thì bị xử phạt mức phạt là bao nhiêu? 1. Người dưới 16 tuổi có được điều khiển xe máy điện không? - Theo Điểm g Khoản 1 Điều 34 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định về các loại xe cơ giới bao gồm:+ Xe gắn máy là xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ có vận tốc thiết kế không lớn hơn 50 km/h;+ Nếu động cơ dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích không lớn hơn 50 cm3+ Nếu động cơ dẫn động là động cơ điện thì công suất không lớn hơn 04 kW. => Theo đó, xe máy điện là xe gắn máy với động cơ dẫn động là động cơ điện thuộc loại xe cơ giới. - Theo Điểm a Khoản 1 Điều 59 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định:+ Độ tuổi của người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng được quy định như sau: Người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy => Người dưới 16 tuổi không đủ điều kiện để điều khiển xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ. 2. Người dưới 16 tuổi điều khiển xe máy điện và không đội mũ bảo hiểm bị xử phạt thế nào? - Theo Điểm h Khoản 2 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định:+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ khi không đội mũ bảo hiểm. - Theo Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định mức xử phạt với hành vi vi phạm trên cụ thể:+ Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe gắn máy và các loại xe tương tự xe gắn máy - Tuy nhiên, về lỗi giao xe máy điện cho người dưới 16 tuổi chạy (người không đủ điều kiện điều khiển xe máy 2025) thì người giao xe có thể bị xử phạt theo Khoản 10 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP như sau:+ Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe gắn máy và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm GIAO XE hoặc ĐỂ CHO người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Cha, mẹ muốn lập di chúc để định đoạt tài sản cho các con nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không biết chữ nên không thể tự mình viết di chúc. Khi đó, con cái có thể viết nội dung di chúc theo ý chí của cha, mẹ hay không? Dưới đây là những phân tích theo quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Cha, mẹ có quyền tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản - Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người lập di chúc có quyền: Chỉ định người thừa kế, truất quyền, phân định phần di sản,... => Như vậy, về nguyên tắc, cha, mẹ có quyền quyết định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được để lại cho ai sau khi qua đời. 2. Con cái có thể viết thay di chúc cho cha, mẹ không? Câu trả lời là có. Nhưng việc lập di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ của pháp luật cụ thể: Thứ nhất, di chúc hợp pháp - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Thứ hai, Không tự mình viết di chúc thì phải có người làm chứng - Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: + Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc NHƯNG phải có ít nhất là 2 người làm chứng.+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng+ Những người làm chứng xác nhận và ký vào bản di chúc. - Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, TRỪ NHỮNG NGƯỜI SAU ĐÂY: + Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. KẾT LUẬN: Như vậy, pháp luật không bắt buộc người lập di chúc phải tự tay viết di chúc trong mọi trường hợp. Nếu cha, mẹ không tự mình viết được thì có thể nhờ con viết hoặc đánh máy bản di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của chính người lập di chúc và phải có 2 người làm chứng và con không thể tham gia với tư cách là người làm chứng di chúc của bố mẹ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp có quyền xây dựng chính sách giá, mở rộng mạng lưới phân phối và thu hút khách hàng. Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp được bắt tay với nhau để gây khó khăn, ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ khỏi thị trường. Đặc biệt, khi các doanh nghiệp đang cạnh tranh trên cùng thị trường cùng thống nhất không giao dịch với một doanh nghiệp khác, tác động của hành vi không chỉ dừng lại ở quan hệ thương mại giữa các bên mà có thể trở thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị pháp luật cấm. Tình huống:Trên thị trường phân phối một loại thiết bị điện, có 5 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó A, B và C là ba doanh nghiệp có thị phần lớn. Thời gian gần đây, D và E là hai doanh nghiệp mới gia nhập thị trường và bắt đầu cạnh tranh bằng cách đưa ra giá bán thấp hơn, tăng chiết khấu cho đại lý và mở rộng mạng lưới phân phối. Lo ngại D và E tiếp tục mở rộng thị phần, A, B và C đã bí mật thỏa thuận với nhau: + Không ký hợp đồng cung cấp hàng hóa cho các đại lý đang hợp tác với D và E;+ Cùng yêu cầu một số nhà cung cấp không bán hàng cho D và E;+ Nếu một đại lý tiếp tục nhập hàng của D hoặc E thì A, B và C sẽ ngừng cung cấp hàng cho đại lý đó; Vấn đề đặt ra: A, B và C có đang thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không? 1. Thế nào là thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường? - Theo Điều 20 trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2004 tuy đã hết hiệu lực nhưng vẫn được xem là tài liệu tham khảo, nhấn mạnh những trường hợp cụ thể của các thỏa thuận nhằm loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận là:+ Cùng thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận + Cùng hành động MỘT trong CÁC hình thức quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 19 như sau: ++ Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hoá, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận; ++ Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp này; ++ Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh; ++ Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan. 2. Đây có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm? - Trong tình huống trên, A, B và C đều là những doanh nghiệp trên cùng 1 thị trường liên quan (doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận) không cạnh tranh với nhau để loại bỏ D và E (doanh nghiệp không tham gia vào thỏa thuận) một cách độc lập mà đã cùng phối hợp và thống nhất hành động với các nội dung thỏa thuận nhằm loại bỏ khiến hai doanh nghiệp này không thể tiếp tục hoạt động bình thường. => Hành vi trên thuộc một trong các dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo khoản 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018: “Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận.” => Được xác định là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh BỊ CẤM quy định tại Khoản 2 Điều 12 Luật cạnh tranh 2018 cụ thể “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 11 của Luật này” => Không cần phải xét đến rằng việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này có gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường chỉ cần có hành vi cùng thỏa thuận loại bỏ thì đã là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. 3. Mức xử phạt? - Không chỉ bị cấm, hành vi này còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điểm e Khoản 1 Điều 6 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, hành vi thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận của các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan có thể bị:+ Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp là các bên tham gia thỏa thuận ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chị Ngân hỏi: Trước đây khi ly hôn, do tôi không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Tòa án đã giao con gái cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay tôi đã có công việc ổn định, có điều kiện tốt hơn để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Tôi muốn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao con cho tôi chăm sóc thì có được không? Ngoài ra, thời gian gần đây con gái thường xuyên nói nhớ mẹ và muốn được ở với tôi. Chồng cũ biết việc này nên đã hạn chế, thậm chí có lúc không cho tôi gặp và đón con. Tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền thăm nom, chăm sóc con của mình? Trả lời: 1. Có được thay đổi người trực tiếp nuôi con không? - Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc chủ thể có quyền yêu cầu theo quy định pháp luật KHI:+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; hoặc+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. - Và Theo Khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. => Vì vậy, nếu con gái của chị hiện nay đã từ đủ 7 tuổi trở lên thì việc cháu thường xuyên thể hiện mong muốn được ở với mẹ là yếu tố Tòa án có thể xem xét. Tuy nhiên, nguyện vọng của con không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án vẫn phải đánh giá toàn diện điều kiện của cả cha và mẹ và đặt lợi ích của con lên hàng đầu. 2. Chồng cũ có quyền hạn chế việc chị thăm con không? Không. Bởi: - Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.  - Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.  => Do đó, việc chồng cũ chỉ vì biết con gái nhớ mẹ mà tự ý ngăn cản chị gặp con, hạn chế việc thăm nom của chị là trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp Tòa án có quyết định hạn chế quyền thăm nom. Mức xử phạt với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (Điều 42 Nghị định 282/2025/NĐ-CP):+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trừ trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án.   Chồng cũ chị ngăn cản việc chị thăm nom con đồng thời con có nguyện vọng ở với mẹ và chị có điều kiện nuôi, dạy con tốt hơn thì đây là những điều kiện cần thiết để chị có thể được toà đồng ý yêu cầu thay đổi quyền nuôi con. Nên chị hãy làm đơn yêu cầu thay thổi quyền nuôi con đến toà án nhé. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ án đều được Tòa án giải quyết liên tục cho đến khi đưa ra bản án. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hai khái niệm này có điểm giống nhau là đều làm cho quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án không tiếp tục theo thủ tục thông thường, nhưng tạm đình chỉ và đình chỉ có bản chất và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án dân sự là gì? Khi nào được áp dụng? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. 1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án TẠM THỜI DỪNG giải quyết vụ án khi xuất hiện một trong những căn cứ luật định. Việc tạm đình chỉ KHÔNG làm CHẤM DỨT vụ án. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong CÁC TRƯỜNG HỢP chủ yếu sau (Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Đương sự là cá nhân chết hoặc cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động mà chưa có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng; + Đương sự mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên nhưng chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; + Chấm dứt việc đại diện hợp pháp nhưng chưa có người thay thế; + Cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan hoặc phải chờ cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước; + Cần chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc chờ cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; + Cần chờ kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:A khởi kiện B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cần chờ kết quả giải quyết của một vụ án khác có liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Trong trường hợp này, nếu đáp ứng điều kiện luật định, Tòa án có thể tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả của vụ án có liên quan.=> Khi nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ được khắc phục, vụ án có thể được tiếp tục giải quyết. 2. Hậu quả của việc tạm đình chỉ vụ án dân sự - Vụ án không bị xóa khỏi sổ thụ lý mà chỉ được ghi chú về quyết định tạm đình chỉ; - Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và sẽ được xử lý khi vụ án tiếp tục được giải quyết; - Thẩm phán được phân công vẫn có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc để khắc phục nguyên nhân dẫn đến việc tạm đình chỉ; - Quyết định tạm đình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. 3. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? - Khác với tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án CHẤM DỨT việc giải quyết vụ án sau khi đã thụ lý vì xuất hiện căn cứ theo quy định của pháp luật. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong CÁC TRƯỜNG HỢP như (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự):+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; + Cơ quan, tổ chức đã giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; + Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; + Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp được pháp luật loại trừ (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan); + Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự và việc giải quyết vụ án liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; + Nguyên đơn không nộp tiền, ,chi phí tạm ứng chi phí định giá tài sản và các chi phí tố tụng khác theo quy định; + Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định mà thời hiệu khởi kiện đã hết; + Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu thanh toán khoản nợ. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, A tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Nếu việc rút yêu cầu đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. 4. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự - Theo Điều 217 và Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi đình chỉ giải quyết vụ án:+ Tòa án xóa tên vụ án trong sổ thụ lý; + Trong trường hợp đương sự có yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và lưu bản sao theo quy định; + Trong nhiều trường hợp, đương sự không được khởi kiện lại cùng vụ án nếu vụ án sau không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác; + Việc xử lý tiền tạm ứng án phí phụ thuộc vào lý do đình chỉ. Ví dụ: Nếu người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện => tiền tạm ứng án phí được trả lại cho họ Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt => tiền tạm ứng án phí được sung vào công quỹ nhà nước. + Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cũng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kết luận: Tạm đình chỉ = Tạm dừng → khắc phục lý do → tiếp tục giải quyết.Đình chỉ = Chấm dứt → không tiếp tục giải quyết  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
So sánh Tội làm nhục người khác và Tội vu khống trong Bộ luật Hình sự 2015 1. Điểm giống nhau giữa Tội làm nhục người khác và Tội vu khống - Khách thể của tội phạm: cả hai tội đề xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Ngoài ra, tội vu khống còn xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác. - Nạn nhân của tội phạm: Là con người cụ thể, không phải pháp nhân hay nhóm người nào. - Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. - Hình thức lỗi: Cố ý trực tiếp 2. Phân biệt Tội làm nhục người khác và Tội vu khống Tiêu chí Tội làm nhục người khác (Điều 155) Tội vu khống (Điều 156) Hành vi nguy hiểm cho xã hội Xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác Thực hiện một trong các hành vi sâu đây: - Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự và gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. - Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Hình thức biểu hiện trên thực tế Việc thực hiện các hành vi có thể thông qua lời nói hoặc hành động với lỗi cố ý trực tiếp xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như: chửi bới, gào thét, tục tĩu, lăng mạ, xông vào lột xé quần áo, túm đầu cắt tóc giữa đám đông, chợ, phố, siêu thị, nhà hàng,… nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, danh dự, nhân phẩm của người khác mà đặc điểm của hành vi thường diễn ra trực tiếp, công khai trước sự có mặt chứng kiến của nhiều người,… Ngoài ra, để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và cậy số lượng đông người áp đảo để tra khảo, giữ để đấm đá hoặc dùng công cụ, phương tiện nguy hiểm nhằm khống chế, đe dọa và buộc nạn nhân phải làm theo ý muốn của mình, hướng tới xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác…. Việc thực hiện hành vi trên thông qua các thủ đoạn như: Tạo ra các thông tin  không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó những thông tin sai sự thật. Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự Xác định được mức độ nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự người khác. (lưu ý: nếu chưa đến mức xử lý hình sự, người vi phạm bị xử lý thành chính theo Nghị định số: 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an tòa xã hội; phồng chống tệ nạn xã hội; phòng chống bao lực gia đình quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên, tổng kết thực tiễn thường căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như: - Thái độ, nhận thức của bản thân người phạm tội; - Cường độ mức độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự; - Địa điểm, môi trường, bối cảnh xung quanh nơi bị làm nhục; - Uy tín của nạn nhân trong gia đình, cơ quan, tổ chức hoặc trong xã hội, phong tục tập quán, dư luận xã hội, truyền thống gia đình của nạn nhân; - Tâm lý tinh thần của nạn nhân trong và sau khi bị làm nhục Thực hiện một trong các hành vi trên: Tương tự, hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn xác định được việc bịa đặt… mức độ “ xúc phạm nghiêm trọng” đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Mục đích phạm tội Nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi ích của người khác. 3. Kết luận  Mặc dù Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015) và Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015) đều là các tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nhưng hai tội danh này có bản chất và dấu hiệu pháp lý khác nhau. Điểm khác biệt cốt lõi là Tội làm nhục người khác được thực hiện thông qua các hành vi xúc phạm trực tiếp, nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nạn nhân; trong khi Tội vu khống được thực hiện thông qua hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những thông tin mà người phạm tội biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, việc phân định hai tội danh cần căn cứ vào bản chất hành vi, phương thức thực hiện, nội dung thông tin được đưa ra, mục đích của người thực hiện và các chứng cứ của vụ việc, tránh trường hợp nhầm lẫn giữa hành vi xúc phạm với hành vi bịa đặt thông tin sai sự thật. Đồng thời, trong trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.  
Trong thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần một người có hành vi gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác thì chắc chắn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam không phải lúc nào cũng xử lý người gây ra hậu quả. Có những trường hợp, mặc dù hành vi đã gây thiệt hại nhưng người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự vì thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). I.  Loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? - Loại trừ trách nhiệm hình sự là những trường hợp pháp luật quy định mặc dù một người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội hoặc gây thiệt hại, nhưng do hành vi đó được thực hiện trong những điều kiện đặc biệt nên không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.- Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, có các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, sau đây:+ Sự kiện bất ngờ;+ Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự;+ Phòng vệ chính đáng;+ Tình thế cấp thiết;+ Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội;+ Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; 1.  Sự kiện bất ngờ (Điều 20 Bộ luật Hình sự) - Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó => không phải chịu trách nhiệm hình sự.Ví dụ: Người đang điều khiển ô tô đúng quy định, bất ngờ một người lao ra đường khiến tai nạn xảy ra mà tài xế không thể tránh được. Nếu có đủ căn cứ chứng minh tài xế không thể lường trước tình huống này thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự. 2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật Hình sự) - Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình => không phải chịu trách nhiệm hình sự. Phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần, không chỉ dựa trên việc người đó có tiền sử bệnh.- Nếu người phạm tội chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi mà chưa mất hoàn toàn => vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Một người mắc bệnh tâm thần phân liệt nặng và đang trong giai đoạn phát bệnh, có hoang tưởng rằng hàng xóm là người muốn sát hại mình. Trong cơn bệnh, người đó đã dùng gậy đánh hàng xóm gây thương tích. Sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần và kết luận tại thời điểm thực hiện hành vi do mất hoàn toàn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi vì mắc bệnh tâm thần nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. 3. Phòng vệ chính đáng (Điều 22 Bộ luật Hình sự) - Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi cá nhân nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác trước hành vi xâm phạm đang xảy ra.- Điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng gồm:+ Có hành vi tấn công trái pháp luật đang diễn ra.+ Chống trả lại 1 cách cần thiết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.+ Phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.Trong trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên thì người phòng vệ không phải chịu trách nhiệm hình sự.- Ngược lại, nếu việc chống trả rõ ràng vượt quá mức cần thiết, được xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Ví dụ: A bị B dùng dao tấn công. A giằng được con dao và chống trả để khống chế B, khiến B bị thương. Nếu việc chống trả là cần thiết và phù hợp thì đây là phòng vệ chính đáng. 4. Tình thế cấp thiết (Điều 23 Bộ luật Hình sự) - Tình thế cấp thiết là trường hợp một người buộc phải gây ra thiệt hại nhỏ hơn để ngăn chặn một thiệt hại lớn hơn đang có nguy cơ xảy ra. Nếu thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.Ví dụ: Để tránh đâm vào một nhóm học sinh sang đường, tài xế buộc phải đánh lái làm hỏng hàng rào của một hộ dân. Thiệt hại đối với tài sản nhỏ hơn rất nhiều so với thiệt hại có thể xảy ra đối với tính mạng con người. 5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24 Bộ luật Hình sự) - Pháp luật cho phép cá nhân được sử dụng vũ lực cần thiết để bắt giữ người đang thực hiện hành vi phạm tội khi không còn cách nào khác. Trong trường hợp việc sử dụng vũ lực là cần thiết và phù hợp thì người bắt giữ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.Ngược lại, nếu sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, gây thiệt hại không tương xứng thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.Ví dụ: Người dân khống chế một tên cướp đang bỏ chạy khiến tên cướp bị gãy tay. Nếu việc sử dụng vũ lực là cần thiết để bắt giữ thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. 6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25 Bộ luật Hình sự) - Trong hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc thử nghiệm công nghệ mới luôn tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Nếu người thực hiện đã:+ Tuân thủ đúng quy trình, quy phạm;+ Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa;nhưng vẫn xảy ra thiệt hại thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu không tuân thủ quy trình hoặc bỏ qua các biện pháp an toàn thì vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.Ví dụ: Một nhóm nghiên cứu thử nghiệm thiết bị y tế theo đúng quy trình được phê duyệt nhưng thiết bị phát sinh lỗi ngoài dự liệu gây thiệt hại. Nếu đã thực hiện đầy đủ quy định về an toàn thì có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.  
Tình huống: Tôi có người bạn đang chấp hành án phạt tù, hiện tại bạn tôi vẫn chưa có gia đình. Trước khi phạm tội bạn tôi có thửa đất và muốn bán. Tôi có thắc mắc bạn tôi có thực hiện được các thủ tục mua bán đất đai cho người khác hay không? Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thi hành án Hình sự 2025 quy định về Nguyên tắc thi hành án án hình sự: “4. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.” Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;d) Trong thời hạn sử dụng đất;đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.Theo đó, pháp luật không cấm người đang chấp hành án phạt tù thực hiện thủ tục mua bán đất đai cho người khác nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024.Bên cạnh đó, theo điểm g khoản 1 Điều 23 Luật Thi hành án hình sự năm 2025, phạm nhân có quyền được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật. Do đó, hình phạt tù chỉ hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại và cư trú của người bị kết án trong một thời gian nhất định, chứ không mặc nhiên tước bỏ các quyền dân sự, quyền sở hữu hoặc quyền định đoạt tài sản hợp pháp của họ. Vì vậy, nếu quyền sử dụng đất thuộc sở hữu hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù và thửa đất đáp ứng đầy đủ các điều kiện giao dịch theo Luật Đất đai như có Giấy chứng nhận, không có tranh chấp, còn thời hạn sử dụng, không bị kê biên, phong tỏa hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn thì người đó vẫn có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình.Tuy nhiên, do người đang chấp hành án phạt tù bị hạn chế quyền tự do và chịu sự quản lý của cơ sở giam giữ nên việc thực hiện giao dịch sẽ được tiến hành thông qua các phương thức phù hợp với quy định của pháp luật.Thứ nhất, phạm nhân có thể thực hiện công chứng trực tiếp tại trại giam. Căn cứ  điểm c khoản 2 Điều 46 Luật Công chứng năm 2024, việc công chứng  có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng thuộc các trường hợp “ Đang bị tạm giữ, tạm giam; đang thi hành án phạt tù; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;”Thứ hai, phạm nhân có thể lập hợp đồng ủy quyền được công chứng tại trại giam để ủy quyền cho người thân hoặc người được tin tưởng thay mặt mình thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng chuyển nhượng, nộp thuế và đăng ký sang tên quyền sử dụng đất.Tuy nhiên, nếu phạm nhân có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ nộp tiền theo bản án của Tòa án nhưng thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì giao dịch này có thể bị cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu để kê biên, xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
Tình huống: Tôi và chồng kết hôn được 2 năm. Thời gian đầu, cuộc sống hôn nhân khá hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây chồng tôi thường xuyên chửi bới, xúc phạm, thậm chí nhiều lần đánh đập tôi. Do không thể tiếp tục chịu đựng nên tôi muốn ly hôn, nhưng chồng tôi không đồng ý và còn đe dọa sẽ đánh tôi nếu tôi nộp đơn ly hôn. Vậy cho tôi hỏi, hành vi đe dọa, cản trở vợ thực hiện quyền yêu cầu ly hôn của chồng tôi có vi phạm pháp luật hay không? Trong bài viết này, Luật Phương Bình sẽ giải thích chi tiết quy định pháp luật liên quan. 1. Quy định của pháp luật về cản trở ly hôn Theo quy định tại khoản 1, điểm e khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về bảo vệ hôn nhân và gia đình, như sau: “1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 2. Cấm các hành vi sau đây: … e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn; … Theo quy định, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Đối hành vi đe dọa cản trở chị ly hôn của người chồng là vi phạm điều cấm của luật hôn nhân và gia đình. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.  (Hình ảnh minh họa) 2. Về mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở ly hôn Theo quy định tại điểm đ Điều 62 Nghị định số: 109/2026/NĐ – CP quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: …đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.” Ngoài ra, theo quy định tại Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện như sau: “Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.”Như vậy, chiếu theo tình huống trên nếu người chồng đe dọa không cho vợ ly hôn hay đang cản trở ly hôn hôn, theo quy định người chông sẽ bi phạt hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra, nếu người chồng đe dọa  không cho vợ ly hôn, cản trở ly hôn đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.Quý khách hàng có cần tư vấn về lĩnh vực gì vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được tư vấn. 
Trong thực tế kinh doanh, không ít trường hợp hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa như trước. Vậy khi phát sinh tranh chấp, liệu bên nhận hàng có phải tiếp tục thanh toán hay không? Căn cứ khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự 1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản." Đồng thời, Điều 24 Luật Thương mại 2005 cũng quy định: "Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. 2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó." Như vậy, pháp luật hiện hành không bắt buộc mọi giao dịch mua bán đều phải được lập thành hợp đồng giấy có ký tên, đóng dấu thì mới có giá trị. Trong nhiều trường hợp, việc các bên tiếp tục thực hiện giao dịch trên thực tế vẫn có thể được xem là căn cứ xác lập quan hệ hợp đồng. Ví dụ: Sau khi hợp đồng hết thời hạn hiệu lực nhưng bên bán vẫn tiếp tục giao hàng, bên mua vẫn nhận hàng, đối chiếu công nợ, thanh toán hoặc trao đổi qua email, tin nhắn về việc giao dịch thì những hành vi này có thể được xem là sự tiếp tục thực hiện quan hệ thương mại giữa các bên. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án không chỉ căn cứ vào hợp đồng cũ mà còn xem xét toàn bộ quá trình giao dịch thực tế để xác định có phát sinh quyền và nghĩa vụ hay không?  Ngoài ra, pháp luật thương mại còn ghi nhận: "Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại." Đây là cách thức giao dịch được các bên lặp đi lặp lại trong thời gian dài và mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền, nghĩa vụ của nhau. Chẳng hạn, trước đây các bên thường thực hiện việc giao hàng trước, đối chiếu công nợ sau; hoặc đặt hàng qua email, xác nhận qua bảng kê mà không ký trực tiếp. Nếu phương thức này đã được duy trì ổn định trong quá trình hợp tác thì dù hợp đồng cũ đã hết hiệu lực, Tòa án vẫn có thể xem xét đây là căn cứ xác định quan hệ giao dịch tiếp tục tồn tại. Lưu ý: Để được công nhận trách nhiệm thanh toán, bên yêu cầu phải chứng minh được việc giao dịch thực tế vẫn tiếp tục diễn ra theo thông lệ trước đó. Nếu trước đây các bên có thỏa thuận hoặc duy trì thông lệ bắt buộc phải có xác nhận, chữ ký, đóng dấu trên bảng kê, biên bản hoặc chứng từ vận chuyển thì các tài liệu phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực cũng cần đáp ứng hình thức này hoặc có chứng cứ tương đương chứng minh bên còn lại đã chấp nhận giao dịch. Ngược lại, nếu chứng từ do một bên tự lập, không có xác nhận của bên còn lại và cũng không có căn cứ thể hiện việc tiếp tục thuê dịch vụ, nhận hàng hoặc thanh toán thì rất khó xác định trách nhiệm thanh toán phát sinh sau khi hợp đồng hết hiệu lực. Do đó, trong hoạt động thương mại, dù hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng các bên vẫn tiếp tục giao nhận hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ theo thông lệ cũ thì trách nhiệm thanh toán vẫn có thể phát sinh. Việc có được pháp luật công nhận hay không sẽ phụ thuộc vào hành vi thực tế của các bên và các chứng cứ chứng minh quá trình giao dịch liên tục sau khi hợp đồng hết hạn. Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Phương Bình. Quý khách hàng có thắc mắc vui lòng liên hệ: 0936.645.695 để được Luật sư tư vấn.
 
hotline 0936 645 695