Tất cả sản phẩm

1.    Một người có thể kí hai hợp đồng lao động được không? Có, một người hoàn toàn có thể kí hai hay nhiều hợp đồng lao động trở lên với nhiều người sử dụng lao động khác nhau, nhưng phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận trong các hợp đồng. Điều 19. Giao kết nhiều hợp đồng lao động1. Người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.2. Người lao động đồng thời giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.Như vậy, việc người lao động có thể kí nhiều hợp đồng lao động nhưng vẫn phải đảm bảo các điều kiện người lao động thực hiện đầy đủ các nội dung đã cam kết về thời gian làm việc, hiệu quả công việc… Trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động được giao kết đầu tiên. Việc tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định riêng của từng luật chuyên ngành có liên quan.2.    Khi kí nhiều hợp đồng lao động thì quy định về đóng bảo hiểm sẽ như thế nào?Việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động đồng thời giao kết nhiều hợp đồng lao động được thực hiện tuân thủ theo các quy định chuyên ngành của từng loại bảo hiểm.Theo Khoản 5 Điều 2 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện Luật Bảo hiểm xã hội.  Đối với chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo hợp đồng lao động được giao kết đầu tiên. Trong trường hợp hợp đồng lao động đầu tiên đang tạm hoãn thực hiện mà các bên không có thỏa thuận về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian tạm hoãn, người lao động sẽ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo thứ tự về thời gian có hiệu lực của các hợp đồng được ký kết tiếp theo.Khác với bảo hiểm xã hội bắt buộc, đối với bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động ở từng hợp đồng lao động đều có trách nhiệm phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khi xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người lao động sẽ được giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo nguyên tắc đóng - hưởng theo quy định ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Đất đồng sở hữu là gì? Đất đồng sở hữu là thửa đất có từ hai cá nhân hoặc tổ chức trở lên cùng có chung quyền sử dụng đất. Khi đủ điều kiện, Nhà nước sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho từng người. Trường hợp các thành viên có yêu cầu thì sẽ cấp chung 01 Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện giữ.Theo quy định tại Điều 209 và Điều 210 Bộ luật Dân sự năm 2015, sở hữu chung được phân thành hai hình thức: sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.Thứ nhất, sở hữu chung theo phần. Đây là trường hợp quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định tương ứng với một phần quyền trong tài sản chung. Mỗi người có quyền, nghĩa vụ đối với phần quyền của mình, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.Thứ hai, sở hữu chung hợp nhất. Là hình thức sở hữu chung mà phần quyền sở hữu của từng chủ sở hữu không được xác định cụ thể đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia. Trong trường hợp này, các chủ sở hữu cùng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định riêng. Đối với trường hợp đất do nhiều người cùng đứng tên hoặc cùng có quyền sử dụng, việc quản lý, khai thác và định đoạt tài sản có thể được thực hiện theo thỏa thuận giữa các đồng sở hữu. Tuy nhiên, việc phân chia phần quyền sử dụng đất cần căn cứ vào hình thức sở hữu, thỏa thuận của các bên và điều kiện pháp luật về đất đai, chứ không mặc nhiên được chia theo ý chí riêng của từng người. 2. Ai là người được hưởng phần đất? •    Về sở hữu chung theo phần: Tỷ lệ phần quyền của từng chủ sở hữu được xác định rõ ràng đối với tài sản chung. Do đó, mỗi chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt đối với phần quyền sở hữu của mình, bao gồm việc để lại thừa kế theo di chúc hoặc chia thừa kế theo pháp luật. Ví dụ: Anh A và anh Bcùng góp tiền mua chung một thửa đất. Trong hồ sơ và Giấy chứng nhận xác định rõ tỷ lệ phần quyền: anh A nắm 60% và anh B nắm 40% quyền sử dụng đất. Anh A qua đời. Phần 60% quyền sử dụng đất của anh A là di sản thừa kế riêng của anh A. Anh A có quyền lập di chúc để lại 60% này cho con mình mà không cần anh B đồng ý. Nếu không có di chúc, phần 60% này sẽ được chia theo pháp luật cho các thừa kế thuộc hàng thừa kế của anh A.•    Về sở hữu chung hợp nhất: Phần quyền sở hữu của từng người không được xác định cụ thể đối với tài sản chung. Việc định đoạt tài sản này bắt buộc phải có sự thỏa thuận, đồng thuận của tất cả các chủ sở hữu chung (thể hiện qua chữ ký của toàn bộ các thành viên) hoặc theo quy định của pháp luật.Ví dụ: Dòng họ Nguyễn cùng nhau quản lý, sử dụng một thửa đất gắn liền với nhà thờ họ (từ đường) do tổ tiên để lại hoặc do các thành viên trong dòng họ đóng góp tạo lập. Đây là tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng dòng họ. Do phần quyền sử dụng đất không xác định theo tỷ lệ phần trăm cho từng người, thành viên trong dòng họ không thể yêu cầu phân chia mảnh đất nhà thờ họ để lấy phần riêng. Cá nhân thành viên cũng không được phép để lại thừa kế phần đất nhà thờ họ này cho con cháu riêng của mình, vì thửa đất được giữ gìn lâu dài để phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng chung của cả dòng họ. 3. Đất chưa tách thửa hoặc có người tự ý định đoạt thì xử lý ra sao? Chia thừa kế khi đất chưa đủ điều kiện tách thửa. Khi mảnh đất di sản thừa kế không đáp ứng đủ điều kiện hoặc diện tích tối thiểu do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, kể cả trường hợp việc phân chia được xác định theo bản án hoặc quyết định của Tòa án, cơ quan đăng ký đất đai sẽ không thực hiện thủ tục tách thửa riêng. Trong tình huống này, các đồng thừa kế có thể thỏa thuận giải quyết theo một trong các phương án pháp lý phù hợp. Phương án thứ nhất là các thừa kế cùng làm thủ tục đăng ký biến động nhận thừa kế để cùng đứng tên đồng sở hữu, khi đó Giấy chứng nhận sẽ được cấp ghi nhận quyền sử dụng đất chung của các thành viên. Phương án thứ hai là các bên thỏa thuận giao toàn bộ thửa đất cho một người nhận di sản, và người đứng tên nhận đất sẽ thanh toán lại giá trị bằng tiền tương ứng với phần di sản được hưởng cho các đồng thừa kế còn lại theo quy định dân sự. Phương án thứ ba là các đồng thừa kế thống nhất cùng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bên thứ ba rồi phân chia số tiền thu được theo tỷ lệ suất thừa kế. Cuối cùng, nếu người nhận thừa kế đã sở hữu sẵn một thửa đất nằm liền kề, họ có thể xin tách thửa đồng thời với việc hợp thửa vào mảnh đất liền kề đó.Một đồng sở hữu tự ý chuyển nhượng toàn bộ thửa đất. Quy định về định đoạt đất đồng sở hữu nhóm người có chung quyền sử dụng đất khi quyền sử dụng đất không phân chia được theo phần thì các thành viên phải cùng nhau thực hiện hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người đại diện để thực hiện các giao dịch chuyển nhượng. Hậu quả của việc tự ý chuyển nhượng nếu một cá nhân tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất (hoặc phần quyền sử dụng đất của người khác) mà không có sự đồng ý hay chữ ký ủy quyền của các đồng sở hữu còn lại, hợp đồng chuyển nhượng này đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịchDo vi phạm điều kiện có hiệu lực, hợp đồng chuyển nhượng trái pháp luật này sẽ bị Tòa án tuyên vô hiệu, từ đó khôi phục lại tình trạng ban đầu và không làm dịch chuyển quyền sử dụng đất. Nhờ vậy, khối di sản thừa kế vẫn được bảo toàn trọn vẹn và người thừa kế hợp pháp hoàn toàn có quyền hưởng phần di sản của mình theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Tóm tắt vụ việc Nguyễn Thị Bình Trường hợp của bà Bình xuất phát từ việc chỉ đạo thu tiền dạy thêm vượt trần so với Quyết định 22/2013 của UBND TP.Hà Nội. Quy định hiện hành áp dụng mức thu từ 6.000 đến 26.000 đồng/học sinh/tiết tùy theo sĩ số lớp (lớp càng đông, mức thu càng giảm). Tuy nhiên, cựu hiệu trưởng đã cào bằng mức thu 15.000 đồng/tiết/học sinh cho toàn bộ 24 lớp.Tổng số tiền thu về đạt hơn 2,1 tỷ đồng, trong đó phần chênh lệch cao hơn quy định là hơn 1 tỷ đồng, gây thiệt hại trực tiếp cho phụ huynh. Số tiền chênh lệch này được phân bổ 70% cho giáo viên trực tiếp giảng dạy và 30% phục vụ công tác quản lý, cơ sở vật chất.Tại phiên tòa sơ thẩm tháng 3, bà Bình bác bỏ cáo buộc sai phạm và đưa ra lập luận đã thỏa thuận: Việc thu chi nhận được sự đồng thuận từ phía phụ huynh. Căn cứ Thông tư 17/2012 của Bộ GD-ĐT, UBND cấp tỉnh chỉ được giao quyền quy định việc "thu, quản lý, sử dụng" chứ không có thẩm quyền áp mức trần tiền thu. do đó, bà cho rằng việc quy kết vi phạm là không đủ căn cứ. 2. Khi hai văn bản trái nhau, thì văn bản nào được ưu tiên áp dụng Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định việc áp dụng văn bản QPPL như sau:“1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.”Từ những quy định vừa trích dẫn, có thể rút ra hai nguyên tắc cốt lõi trong kỹ thuật áp dụng pháp luật. Thứ nhất, mọi hành vi phải được đánh giá dựa trên các văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm hành vi đó xảy ra. Thứ hai, và quan trọng nhất, là nguyên tắc "lựa chọn văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn". Khi một vấn đề được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau, nếu có sự xung đột hoặc mâu thuẫn, cơ quan thực thi pháp luật không được phép tùy tiện lựa chọn văn bản, mà bắt buộc phải gạt bỏ văn bản cấp dưới để áp dụng văn bản của cơ quan cấp trên. Theo Điều 4 của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 đã xác định thứ tự các bậc văn bản.  Một văn bản do địa phương ban hành mang tính chất hướng dẫn thi hành thì tuyệt đối phải tuân thủ giới hạn ủy quyền và không được phép thêm các quy định làm sai lệch tinh thần của văn bản gốc do cơ quan Trung ương (cấp Bộ) ban hành.Thực tế vụ án cho thấy sự xung đột giữa Thông tư 17/2012/TT-BGDĐT và Quyết định 22/2013/QĐ-UBND. Là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, Thông tư 17 chỉ ủy quyền cho địa phương quy định việc "thu, quản lý, sử dụng" mà không cho phép áp mức trần thu phí. Việc Quyết định 22 tự ấn định trần 6.000 – 26.000 đồng/tiết là vượt quá thẩm quyền ủy quyền và mâu thuẫn với văn bản cấp trên.Theo khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, việc ưu tiên áp dụng Thông tư 17 (vốn không khống chế mức trần 15.000 đồng/tiết) hay Quyết định 22 là vấn đề pháp lý mấu chốt. Do đó, tính hợp pháp trong căn cứ buộc tội bà Bình cần được Hội đồng xét xử xem xét và kết luận chính thức tại phiên tòa. 3. Văn bản bị vô hiệu: Hậu quả pháp lý đối với các quan hệ đã phát sinh Luật chưa quy định chi tiết cơ chế giải quyết hoặc khôi phục hậu quả pháp lý đối với từng quan hệ cụ thể đã phát sinh trước khi văn bản bị bãi bỏ hoặc xử lý. Luật chỉ quy định nguyên tắc chung là việc xử lý văn bản trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, việc giải quyết các quyền lợi, tranh chấp hoặc thiệt hại phát sinh từ việc áp dụng văn bản mâu thuẫn này sẽ phải dựa vào quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan (như Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hoặc pháp luật tố tụng)Vụ án thu tiền học thêm tại Trường THCS Ba Đình là minh chứng rõ nhất cho yêu cầu thượng tôn pháp luật trong việc áp dụng văn bản quy phạm. Khi xảy ra xung đột giữa các quy định, nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là bắt buộc và duy nhất đồng thời, văn bản trái pháp luật phải bị thu hồi, bãi bỏ và bị xử lý trách nhiệm ban hành. Nhận thức đúng đắn nguyên tắc này không chỉ giúp các nhà quản lý tránh được những rủi ro pháp lý đáng tiếc, mà còn góp phần xây dựng một môi trường pháp lý thống nhất, công bằng và minh bạch. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Khi nào công ty TNHH một thành viên nên chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên hay công ty cổ phần? Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức, hoạt động quản lý và định hướng phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH một thành viên có thể phát sinh nhu cầu huy động thêm vốn hoặc thay đổi cơ cấu thành viên, từ đó đặt ra vấn đề chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Vậy doanh nghiệp nên lựa chọn mô hình nào? 1. Chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên Huy động thêm vốn góp từ người khácTheo khoản 2 Điều 87 Luật Doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên có thể tăng vốn điều lệ bằng cách chủ sở hữu góp thêm vốn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn huy động thêm vốn góp từ người khác để mở rộng hoạt động thì không thể tiếp tục duy trì mô hình công ty TNHH một thành viên.Cụ thể, khi tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của cá nhân, tổ chức khác, công ty phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.Như vậy, nếu chủ sở hữu muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp bằng cách tiếp nhận thêm vốn từ người khác, doanh nghiệp cần lựa chọn một trong hai mô hình trên và thực hiện thủ tục chuyển đổi tương ứng.Thay đổi cơ cấu sở hữu thông qua chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viênTheo khoản 1 điều 78 của Luật Doanh nghiệp trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng cho một phần vốn điều lệ cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác hoặc công ty kết nạp thêm thành viên mới thì công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình doanh nghiệp tương ứng thì doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện của mô hình công ty TNHH một thành viên.Khi đó, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp tương ứng với số lượng và cơ cấu thành viên mới. Cụ thể, nếu sau khi chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viên mới, công ty có từ 02 thành viên trở lên thì có thể chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên.Thay đổi chủ sở hữu do thừa kế, giải thể hoặc phá sản của chủ sở hữu ban đầuTheo khoản 2, 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp, trong trường hợp chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là cá nhân chết, phần vốn góp sẽ được xử lý theo quy định về thừa kế. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc thành viên của công ty. Nếu có nhiều người cùng nhận thừa kế và trở thành thành viên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp và thực hiện đăng ký thay đổi theo quy định.Trường hợp chủ sở hữu là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, người nhận chuyển nhượng phần vốn góp của tổ chức đó sẽ trở thành chủ sở hữu mới hoặc thành viên công ty. Nếu việc chuyển nhượng làm phát sinh từ hai thành viên trở lên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình phù hợp, đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi theo quy định pháp luật. 2. Chuyển thành công ty cổ phần Theo khoản 2 điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần theo phương thức sau đây:a) Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khácKhông huy động thêm vốn b) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;c) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khácNhìn chung, công ty TNHH một thành viên có thể chuyển đổi sang công ty cổ phần theo ba phương thức: chuyển đổi mà không huy động thêm vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp; chuyển đổi bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân cùng góp vốn, làm tăng vốn và phát sinh thêm cổ đông; hoặc chuyển đổi bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác, qua đó thay đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp. Tùy vào mục đích huy động vốn, mở rộng quy mô hay thay đổi cơ cấu sở hữu, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức chuyển đổi phù hợp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Việc người vợ ngoại tình trong thời gian mang thai có khiến người chồng được quyền yêu cầu ly hôn hay không là vấn đề cần được xem xét theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 1. Trong thời gian người vợ mang thai, người chồng có quyền yêu cầu ly hôn không? - Không. + Căn cứ vào Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:“ Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”  + Quy định này được hướng dẫn rõ hơn tại Điều 2 Nghị quyết 01/2024/ NQ-HĐTP: “ Điều 2. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình1. “Đang có thai” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là khoảng thời gian vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén.2. “Sinh con” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi;b) Vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con;c) Vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.3. Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này hoặc ngày đình chỉ thai nghén hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này.4. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.5. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi...”  --> Theo đó, người chồng sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian người vợ mang thai và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, không phân biệt vợ có thai với ai. 2. Trong thời gian người vợ mang thai, người chồng có thể ly hôn không?  - Có.  + Theo quy định pháp luật, người chồng sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian vợ mang thai và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, vợ chồng vẫn có thể ly hôn trong 2 trường hợp:  Trường hợp 1: Người vợ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Tòa án chỉ giới hạn quyền yêu cầu ly hôn của người chồng để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em trong khoảng thời gian nhạy cảm. Tòa án không giới hạn quyền yêu cầu ly hôn của người vợ nên nếu người vợ trong giai đoạn mang thai muốn ly hôn, Tòa án vẫn có thể xem xét và thụ lý để giải quyết.  Trường hợp 2: Hai vợ chồng thuận tình ly hôn. Trường hợp “vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn” là trường hợp cả hai cùng thể hiện ý chí ly hôn và thỏa thuận các vấn đề liên quan. Tòa án sẽ tôn trọng thỏa thuận của cả hai bên.  KẾT LUẬN: Vợ ngoại tình mang thai thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn nhưng vẫn có thể ly hôn nếu người vợ yêu cầu giải quyết ly hôn hoặc hai vợ chồng thuận tình ly hôn. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Dao là vật dụng quen thuộc trong đời sống và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, không phải mọi loại dao đều được  định là vũ khí quân dụng. Đặc biệt, pháp luật hiện hành có quy định riêng đối với dao có tính sát thương cao khi loại dao này được sử dụng nhằm xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vậy dao được coi là vũ khí quân dụng khi nào và sử dụng dao trong trường hợp nào có thể bị xử lý hình sự? Dưới đây là những phân tích các quy định pháp luật về vấn đề này. Nguồn: Ảnh Phụ lục 5 Thông tư số 75/2024/TT-BCA 1. Vũ khí quân dụng là gì? Trường hợp nào dao được xác định là vũ khí quân dụng? - Theo khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024:“Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những thiết bị, phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, súng săn.” - Dao được xác định là vũ khí quân dụng khi đáp ứng các điều kiện như sau: + Theo Khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.” => Phải là dao có tính sát thương cao + Theo Điểm d Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Vũ khí quân dụng bao gồm: Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật;....”=> Sử dụng dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật - Có thể hiểu đơn giản:+ Dao có tính sát thương cao + sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật =>  Là vũ khí quân dụng. 2. Dao có tính sát thương cao là những loại dao nào? - Theo Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an đã quy định Danh mục dao có tính sát thương cao như sau: + Dao sắc, nhọn: Lưỡi sắc và nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, có chiều dài từ 12cm trở lên, chiều rộng từ 2cm trở lên.+ Dao sắc: Lưỡi sắc không có đầu nhọn, hình dạng thẳng hoặc cong, chiều dài từ 20cm trở lên, chiều rộng từ 05cm trở lên.+ Dao gấp, dao bấm: Lưỡi có một hoặc nhiều cạnh sắc, nhọn, gấp hoặc bấm lại được, chiều dài từ 07cm trở lên.+ Dao tự chế hoặc hoán cải: Tay cầm dài từ 30cm trở lên; lưỡi có chiều dài từ 05cm trở lên, sắc nhọn hoặc sắc hoặc nhọn. 3. Hậu quả pháp lý của việc sử dụng dao để xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác? Tùy vào các trường hợp cụ thể có thể bị xử lý về hình sự phụ thuộc vào hành vi cụ thể, hậu quả xảy ra, mục đích của người sử dụng dao và các tình tiết khác của vụ việc. Tình huống 1: Dùng dao để xâm phạm đến sức khỏe của người khác - Nếu sử dụng dao để cố ý gây thương tích cho người khác, hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau:  + Truy cứu về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015  + Truy cứu về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. Tình huống 2: Dùng dao để xâm phạm đến tính mạng của người khác - Nếu người sử dụng dao thực hiện hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của người khác và hành vi thỏa mãn đủ các yếu tố cấu thành tội phạm VÀ dao được xác định là vũ khí quân dụng thì => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời hoặc tùy nghi theo 2 tội danh khác nhau: + Truy cứu về Tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015. + Truy cứu  về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Điều 304 Bộ luật Hình sự 2015. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chị Duyên hỏi: Tôi muốn làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thửa đất của tôi giáp với đất của hàng xóm mà hàng xóm không đồng ý ký giáp ranh thì có được cấp sổ không?  Trả lời: Theo điểm c khoản 3 Điều 13 Thông tư 26/2024/TT-BTNMT quy định trường hợp người sử dụng đất liền kề có mặt nhưng không tham gia xác định ranh giới, hoặc không ký xác nhận, mà ranh giới thửa đất không có tranh chấp thì đơn vị đo đạc vẫn có thể thực hiện việc xác định ranh giới và lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Cụ thể: + Bản mô tả ranh giới, mốc giới sẽ được chuyển cho UBND cấp xã để thông báo, niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm phù hợp tại nơi có đất.+ Sau 15 ngày kể từ ngày thông báo, niêm yết mà người sử dụng đất liền kề không có mặt để ký xác nhận + HOẶC sau 10 ngày kể từ ngày nhận được bản mô tả ranh giới, mốc giới mà vẫn không ký xác nhận, đồng thời không có văn bản thể hiện việc tranh chấp ranh giới=> THÌ đơn vị đo đạc phối hợp với UBND cấp xã lập biên bản, ghi rõ tình trạng vắng mặt hoặc lý do không ký xác nhận. Khi đó, ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả ranh giới, mốc giới đã lập để thực hiện đo đạc chi tiết. Như vậy, hàng xóm không ký có làm được sổ đỏ không? Có thể có hoặc không. Cụ thể:+ Hàng xóm không ký nhưng không tranh chấp, khiếu nại bằng văn bản: Có thể tiếp tục thực hiện thủ tục xác định ranh giới, đo đạc và cấp Giấy chứng nhận nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật khác. + Hàng xóm không ký vì cho rằng đang có tranh chấp về ranh giới, có đơn tranh chấp, khiếu nại bằng văn bản: thì sẽ phải chuyển sang quy trình giải quyết tranh chấp mà không thể tiếp tục thực hiện thủ tục xác định ranh giới, đo đạc và cấp Giấy chứng nhận. Kết luận: Do đó, nếu hàng xóm chỉ đơn thuần không đồng ý ký giáp ranh và không có tranh chấp về ranh giới, người sử dụng đất không nhất thiết phải có chữ ký của hàng xóm mới được làm sổ đỏ, sổ hồng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Ông Thắng hỏi: Tôi có một mảnh đất đứng tên tôi. Trước đây, tôi đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai và hợp đồng đã được công chứng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa làm thủ tục sang tên. Vậy quyền sử dụng đất này vẫn thuộc về tôi hay đã thuộc về con tôi. 1. Hợp đồng tặng cho đã công chứng có giá trị không? - Theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký theo quy định của pháp luật. => Như vậy, việc bố mẹ và con lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng là căn cứ pháp lý ghi nhận việc tặng cho giữa các bên. => Tuy nhiên, công chứng hợp đồng không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã được chuyển sang cho người con. 2. Chưa sang tên, quyền sử dụng đất thuộc về ai? - Theo Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai.” => Do đó, nếu hợp đồng tặng cho đã công chứng nhưng chưa đăng ký sang tên, thì việc chuyển quyền sử dụng đất cho người con chưa có hiệu lực.=> Người con chưa chính thức được xác lập quyền sử dụng đất do việc tặng cho, bố mẹ vẫn là người đang được ghi nhận quyền sử dụng đất cho đến khi hoàn tất thủ tục đăng ký. 3. Thời hạn đăng ký biến động sau khi tặng cho quyền sử dụng đất? - Theo Điều 133 Luật Đất đai 2024 quy định trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất người sử dụng phải thực hiện đăng ký biến động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có biến động. - Mức phạt khi chậm đăng ký biến động: (Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP) +    Đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ đăng ký biến động theo quy định của pháp luật với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính: => Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trường hợp người vợ sinh con với người khác trong thời kỳ hôn nhân thì ai được xác định là cha của đứa trẻ trong giấy khai sinh? Người cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) có được đứng tên trong giấy khai sinh hay người chồng vẫn được xác định là cha theo quy định pháp luật?Đây là tình huống có thể phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định cha, mẹ, con, đặc biệt khi người cha sinh học khác với người chồng về mặt pháp lý. Dưới đây là những phân tích dựa trên các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Ly thân có làm chấm dứt quan hệ hôn nhân không? - Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”- Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” => Như vậy, việc vợ chồng không còn chung sống, sống riêng hoặc ly thân KHÔNG LÀM chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Do đó, nếu người vợ sinh con trong thời gian đang ly thân nhưng chưa có bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, thì về mặt pháp lý vẫn được xác định là sinh con trong thời kỳ hôn nhân. 2. Sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, khi khai sinh thì có được khai tên cha ruột đứa trẻ không? Câu trả lời là CÓ THỂ.  - Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.”=>Vì vậy, trường hợp người vợ đang ly thân nhưng chưa ly hôn mà sinh con với một người khác thì đứa con đó mặc định là con chung của vợ chồng hợp pháp. Do đó, khi khai sinh cơ quan hộ tịch sẽ không tự động cho phép đứng tên người cha khác. NHƯNG điều này không có nghĩa trong mọi trường hợp người chồng sẽ là cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) của đứa trẻ.Vậy người cha sinh học của đứa trẻ sẽ được ghi tên trên giấy khai sinh của con mình khi nào? Pháp luật vẫn có cơ chế để giải quyết trường hợp người  là cha sinh học của đứa trẻ không phải là chồng khi có yêu cầu xác định mình là cha của đứa trẻ cụ thể: + Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”+ Theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Người đang không được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.”+ Đồng thời, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nhận con của cha, mẹ “Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.” => Như vậy, trường hợp người chồng không thừa nhận con hay người khác có yêu cầu xác định quan hệ cha – con KHI có căn cứ pháp lý xác định người này là cha hay không phải là cha của đứa trẻ thì thông tin về người cha có thể được đăng ký, điều chỉnh trong giấy khai sinh khi có quyết định hoặc bản án của toà án. Kết luận: Vì vậy, nếu người mẹ sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, việc ghi nhận người cha sinh học trên giấy khai sinh PHẢI phát sinh thêm thủ tục khởi kiện/yêu cầu toà án công nhận quan hệ cha con và làm đăng ký nhận cha, con tại UBND có thẩm quyền. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chi Hà hỏi: Con tôi 15 tuổi đi xe máy điện và ko đội mũ bảo hiểm thì bị xử phạt mức phạt là bao nhiêu? 1. Người dưới 16 tuổi có được điều khiển xe máy điện không? - Theo Điểm g Khoản 1 Điều 34 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định về các loại xe cơ giới bao gồm:+ Xe gắn máy là xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ có vận tốc thiết kế không lớn hơn 50 km/h;+ Nếu động cơ dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích không lớn hơn 50 cm3+ Nếu động cơ dẫn động là động cơ điện thì công suất không lớn hơn 04 kW. => Theo đó, xe máy điện là xe gắn máy với động cơ dẫn động là động cơ điện thuộc loại xe cơ giới. - Theo Điểm a Khoản 1 Điều 59 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định:+ Độ tuổi của người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng được quy định như sau: Người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy => Người dưới 16 tuổi không đủ điều kiện để điều khiển xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ. 2. Người dưới 16 tuổi điều khiển xe máy điện và không đội mũ bảo hiểm bị xử phạt thế nào? - Theo Điểm h Khoản 2 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định:+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ khi không đội mũ bảo hiểm. - Theo Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định mức xử phạt với hành vi vi phạm trên cụ thể:+ Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe gắn máy và các loại xe tương tự xe gắn máy - Tuy nhiên, về lỗi giao xe máy điện cho người dưới 16 tuổi chạy (người không đủ điều kiện điều khiển xe máy 2025) thì người giao xe có thể bị xử phạt theo Khoản 10 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP như sau:+ Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe gắn máy và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm GIAO XE hoặc ĐỂ CHO người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Cha, mẹ muốn lập di chúc để định đoạt tài sản cho các con nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không biết chữ nên không thể tự mình viết di chúc. Khi đó, con cái có thể viết nội dung di chúc theo ý chí của cha, mẹ hay không? Dưới đây là những phân tích theo quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Cha, mẹ có quyền tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản - Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người lập di chúc có quyền: Chỉ định người thừa kế, truất quyền, phân định phần di sản,... => Như vậy, về nguyên tắc, cha, mẹ có quyền quyết định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được để lại cho ai sau khi qua đời. 2. Con cái có thể viết thay di chúc cho cha, mẹ không? Câu trả lời là có. Nhưng việc lập di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ của pháp luật cụ thể: Thứ nhất, di chúc hợp pháp - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Thứ hai, Không tự mình viết di chúc thì phải có người làm chứng - Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: + Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc NHƯNG phải có ít nhất là 2 người làm chứng.+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng+ Những người làm chứng xác nhận và ký vào bản di chúc. - Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, TRỪ NHỮNG NGƯỜI SAU ĐÂY: + Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. KẾT LUẬN: Như vậy, pháp luật không bắt buộc người lập di chúc phải tự tay viết di chúc trong mọi trường hợp. Nếu cha, mẹ không tự mình viết được thì có thể nhờ con viết hoặc đánh máy bản di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của chính người lập di chúc và phải có 2 người làm chứng và con không thể tham gia với tư cách là người làm chứng di chúc của bố mẹ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong đời sống hôn nhân, việc vợ chồng quản lý, sử dụng chung tiền bạc là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền do một bên đang quản lý đều đương nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Vậy chồng tự ý lấy tiền của vợ có bị xử lý về Tội trộm cắp tài sản hay không? Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào việc khoản tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung để từ đó xác định trách nhiệm pháp lý. Dưới đây là những phân tích chi tiết về vấn đề này. 1. Chồng lấy tiền là tài sản riêng của vợ có thể phạm tội trộm cắp tài sản? - Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm: + Tài sản có trước khi kết hôn; + Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng; + Tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định pháp luật. - Nếu khoản tiền là tài sản riêng của vợ mà người chồng tự ý lấy, lén lút chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân thì có thể bị xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự khi đủ các dấu hiệu truy cứu TNHS  cụ thể: + Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định => Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.+ Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 quy định tại Điều luật này=> Bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm. - Pháp luật hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ vì người thực hiện hành vi là vợ hoặc chồng của người bị mất tài sản. Ví dụ: Chị A có 200 triệu đồng được tặng cho riêng và có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng. Anh B là chồng tự ý chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của chị A sang tài khoản của mình để sử dụng. Nếu chứng minh được hành vi lén lút chiếm đoạt, anh B có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. 2. Nếu tiền là tài sản chung của vợ chồng thì sao? - Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung gồm: + Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh + Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân + Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. - Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”  - Vì vậy, nếu tiền là tài sản chung, việc người chồng tự ý lấy tiền do vợ đang quản lý không cấu thành Tội trộm cắp tài sản, bởi người chồng cũng có quyền đối với tài sản chung. => Trường hợp này có thể phát sinh tranh chấp về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung và cần xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình. 3. Chồng chiếm đoạt tiền của vợ có thể bị xử phạt hành chính về bạo lực kinh tế? - Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt tài sản của thành viên gia đình còn có thể bị xử phạt như sau: Theo Điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định:“Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình.” => Như vậy, nếu chồng chiếm đoạt tài sản riêng của vợ, hành vi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng về hành vi bạo lực về kinh tế, nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695