Tất cả sản phẩm

Khi nào công ty TNHH một thành viên nên chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên hay công ty cổ phần? Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tổ chức, hoạt động quản lý và định hướng phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, công ty TNHH một thành viên có thể phát sinh nhu cầu huy động thêm vốn hoặc thay đổi cơ cấu thành viên, từ đó đặt ra vấn đề chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Vậy doanh nghiệp nên lựa chọn mô hình nào? 1. Chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên Huy động thêm vốn góp từ người khácTheo khoản 2 Điều 87 Luật Doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên có thể tăng vốn điều lệ bằng cách chủ sở hữu góp thêm vốn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp muốn huy động thêm vốn góp từ người khác để mở rộng hoạt động thì không thể tiếp tục duy trì mô hình công ty TNHH một thành viên.Cụ thể, khi tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của cá nhân, tổ chức khác, công ty phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.Như vậy, nếu chủ sở hữu muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp bằng cách tiếp nhận thêm vốn từ người khác, doanh nghiệp cần lựa chọn một trong hai mô hình trên và thực hiện thủ tục chuyển đổi tương ứng.Thay đổi cơ cấu sở hữu thông qua chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viênTheo khoản 1 điều 78 của Luật Doanh nghiệp trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng cho một phần vốn điều lệ cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân khác hoặc công ty kết nạp thêm thành viên mới thì công ty phải tổ chức quản lý theo loại hình doanh nghiệp tương ứng thì doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện của mô hình công ty TNHH một thành viên.Khi đó, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp tương ứng với số lượng và cơ cấu thành viên mới. Cụ thể, nếu sau khi chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viên mới, công ty có từ 02 thành viên trở lên thì có thể chuyển đổi sang công ty TNHH hai thành viên trở lên.Thay đổi chủ sở hữu do thừa kế, giải thể hoặc phá sản của chủ sở hữu ban đầuTheo khoản 2, 3 Điều 78 Luật Doanh nghiệp, trong trường hợp chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là cá nhân chết, phần vốn góp sẽ được xử lý theo quy định về thừa kế. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc thành viên của công ty. Nếu có nhiều người cùng nhận thừa kế và trở thành thành viên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp và thực hiện đăng ký thay đổi theo quy định.Trường hợp chủ sở hữu là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, người nhận chuyển nhượng phần vốn góp của tổ chức đó sẽ trở thành chủ sở hữu mới hoặc thành viên công ty. Nếu việc chuyển nhượng làm phát sinh từ hai thành viên trở lên, công ty phải chuyển đổi sang loại hình phù hợp, đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi theo quy định pháp luật. 2. Chuyển thành công ty cổ phần Theo khoản 2 điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần theo phương thức sau đây:a) Chuyển đổi thành công ty cổ phần mà không huy động thêm tổ chức, cá nhân khác cùng góp vốn, không bán phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khácKhông huy động thêm vốn b) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân khác góp vốn;c) Chuyển đổi thành công ty cổ phần bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho một hoặc một số tổ chức, cá nhân khácNhìn chung, công ty TNHH một thành viên có thể chuyển đổi sang công ty cổ phần theo ba phương thức: chuyển đổi mà không huy động thêm vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp; chuyển đổi bằng cách huy động thêm tổ chức, cá nhân cùng góp vốn, làm tăng vốn và phát sinh thêm cổ đông; hoặc chuyển đổi bằng cách bán toàn bộ hoặc một phần phần vốn góp cho tổ chức, cá nhân khác, qua đó thay đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp. Tùy vào mục đích huy động vốn, mở rộng quy mô hay thay đổi cơ cấu sở hữu, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức chuyển đổi phù hợp. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Việc người vợ ngoại tình trong thời gian mang thai có khiến người chồng được quyền yêu cầu ly hôn hay không là vấn đề cần được xem xét theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. 1. Trong thời gian người vợ mang thai, người chồng có quyền yêu cầu ly hôn không? - Không. + Căn cứ vào Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:“ Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”  + Quy định này được hướng dẫn rõ hơn tại Điều 2 Nghị quyết 01/2024/ NQ-HĐTP: “ Điều 2. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình1. “Đang có thai” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là khoảng thời gian vợ mang trong mình bào thai và được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén.2. “Sinh con” quy định tại khoản 3 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình là thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh con đến khi con dưới 12 tháng tuổi;b) Vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh con;c) Vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.3. Chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này hoặc ngày đình chỉ thai nghén hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này.4. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.5. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi...”  --> Theo đó, người chồng sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian người vợ mang thai và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, không phân biệt vợ có thai với ai. 2. Trong thời gian người vợ mang thai, người chồng có thể ly hôn không?  - Có.  + Theo quy định pháp luật, người chồng sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn trong thời gian vợ mang thai và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, vợ chồng vẫn có thể ly hôn trong 2 trường hợp:  Trường hợp 1: Người vợ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Tòa án chỉ giới hạn quyền yêu cầu ly hôn của người chồng để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em trong khoảng thời gian nhạy cảm. Tòa án không giới hạn quyền yêu cầu ly hôn của người vợ nên nếu người vợ trong giai đoạn mang thai muốn ly hôn, Tòa án vẫn có thể xem xét và thụ lý để giải quyết.  Trường hợp 2: Hai vợ chồng thuận tình ly hôn. Trường hợp “vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn” là trường hợp cả hai cùng thể hiện ý chí ly hôn và thỏa thuận các vấn đề liên quan. Tòa án sẽ tôn trọng thỏa thuận của cả hai bên.  KẾT LUẬN: Vợ ngoại tình mang thai thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn nhưng vẫn có thể ly hôn nếu người vợ yêu cầu giải quyết ly hôn hoặc hai vợ chồng thuận tình ly hôn. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chị Duyên hỏi: Tôi muốn làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thửa đất của tôi giáp với đất của hàng xóm mà hàng xóm không đồng ý ký giáp ranh thì có được cấp sổ không?  Trả lời: Theo điểm c khoản 3 Điều 13 Thông tư 26/2024/TT-BTNMT quy định trường hợp người sử dụng đất liền kề có mặt nhưng không tham gia xác định ranh giới, hoặc không ký xác nhận, mà ranh giới thửa đất không có tranh chấp thì đơn vị đo đạc vẫn có thể thực hiện việc xác định ranh giới và lập bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Cụ thể: + Bản mô tả ranh giới, mốc giới sẽ được chuyển cho UBND cấp xã để thông báo, niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm phù hợp tại nơi có đất.+ Sau 15 ngày kể từ ngày thông báo, niêm yết mà người sử dụng đất liền kề không có mặt để ký xác nhận + HOẶC sau 10 ngày kể từ ngày nhận được bản mô tả ranh giới, mốc giới mà vẫn không ký xác nhận, đồng thời không có văn bản thể hiện việc tranh chấp ranh giới=> THÌ đơn vị đo đạc phối hợp với UBND cấp xã lập biên bản, ghi rõ tình trạng vắng mặt hoặc lý do không ký xác nhận. Khi đó, ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả ranh giới, mốc giới đã lập để thực hiện đo đạc chi tiết. Như vậy, hàng xóm không ký có làm được sổ đỏ không? Có thể có hoặc không. Cụ thể:+ Hàng xóm không ký nhưng không tranh chấp, khiếu nại bằng văn bản: Có thể tiếp tục thực hiện thủ tục xác định ranh giới, đo đạc và cấp Giấy chứng nhận nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật khác. + Hàng xóm không ký vì cho rằng đang có tranh chấp về ranh giới, có đơn tranh chấp, khiếu nại bằng văn bản: thì sẽ phải chuyển sang quy trình giải quyết tranh chấp mà không thể tiếp tục thực hiện thủ tục xác định ranh giới, đo đạc và cấp Giấy chứng nhận. Kết luận: Do đó, nếu hàng xóm chỉ đơn thuần không đồng ý ký giáp ranh và không có tranh chấp về ranh giới, người sử dụng đất không nhất thiết phải có chữ ký của hàng xóm mới được làm sổ đỏ, sổ hồng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Ông Thắng hỏi: Tôi có một mảnh đất đứng tên tôi. Trước đây, tôi đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai và hợp đồng đã được công chứng. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa làm thủ tục sang tên. Vậy quyền sử dụng đất này vẫn thuộc về tôi hay đã thuộc về con tôi. 1. Hợp đồng tặng cho đã công chứng có giá trị không? - Theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký theo quy định của pháp luật. => Như vậy, việc bố mẹ và con lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng là căn cứ pháp lý ghi nhận việc tặng cho giữa các bên. => Tuy nhiên, công chứng hợp đồng không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã được chuyển sang cho người con. 2. Chưa sang tên, quyền sử dụng đất thuộc về ai? - Theo Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai.” => Do đó, nếu hợp đồng tặng cho đã công chứng nhưng chưa đăng ký sang tên, thì việc chuyển quyền sử dụng đất cho người con chưa có hiệu lực.=> Người con chưa chính thức được xác lập quyền sử dụng đất do việc tặng cho, bố mẹ vẫn là người đang được ghi nhận quyền sử dụng đất cho đến khi hoàn tất thủ tục đăng ký. 3. Thời hạn đăng ký biến động sau khi tặng cho quyền sử dụng đất? - Theo Điều 133 Luật Đất đai 2024 quy định trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất người sử dụng phải thực hiện đăng ký biến động trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có biến động. - Mức phạt khi chậm đăng ký biến động: (Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP) +    Đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ đăng ký biến động theo quy định của pháp luật với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính: => Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trường hợp người vợ sinh con với người khác trong thời kỳ hôn nhân thì ai được xác định là cha của đứa trẻ trong giấy khai sinh? Người cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) có được đứng tên trong giấy khai sinh hay người chồng vẫn được xác định là cha theo quy định pháp luật?Đây là tình huống có thể phát sinh nhiều vướng mắc trong việc xác định cha, mẹ, con, đặc biệt khi người cha sinh học khác với người chồng về mặt pháp lý. Dưới đây là những phân tích dựa trên các quy định pháp luật về vấn đề này. 1. Ly thân có làm chấm dứt quan hệ hôn nhân không? - Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”- Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” => Như vậy, việc vợ chồng không còn chung sống, sống riêng hoặc ly thân KHÔNG LÀM chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chỉ khi có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng mới chấm dứt. Do đó, nếu người vợ sinh con trong thời gian đang ly thân nhưng chưa có bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, thì về mặt pháp lý vẫn được xác định là sinh con trong thời kỳ hôn nhân. 2. Sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, khi khai sinh thì có được khai tên cha ruột đứa trẻ không? Câu trả lời là CÓ THỂ.  - Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.”=>Vì vậy, trường hợp người vợ đang ly thân nhưng chưa ly hôn mà sinh con với một người khác thì đứa con đó mặc định là con chung của vợ chồng hợp pháp. Do đó, khi khai sinh cơ quan hộ tịch sẽ không tự động cho phép đứng tên người cha khác. NHƯNG điều này không có nghĩa trong mọi trường hợp người chồng sẽ là cha sinh học (người có quan hệ huyết thống) của đứa trẻ.Vậy người cha sinh học của đứa trẻ sẽ được ghi tên trên giấy khai sinh của con mình khi nào? Pháp luật vẫn có cơ chế để giải quyết trường hợp người  là cha sinh học của đứa trẻ không phải là chồng khi có yêu cầu xác định mình là cha của đứa trẻ cụ thể: + Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”+ Theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Người đang không được nhận là cha, mẹ của một người có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.”+ Đồng thời, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nhận con của cha, mẹ “Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.” => Như vậy, trường hợp người chồng không thừa nhận con hay người khác có yêu cầu xác định quan hệ cha – con KHI có căn cứ pháp lý xác định người này là cha hay không phải là cha của đứa trẻ thì thông tin về người cha có thể được đăng ký, điều chỉnh trong giấy khai sinh khi có quyết định hoặc bản án của toà án. Kết luận: Vì vậy, nếu người mẹ sinh con với người khác trong thời kỳ ly thân, việc ghi nhận người cha sinh học trên giấy khai sinh PHẢI phát sinh thêm thủ tục khởi kiện/yêu cầu toà án công nhận quan hệ cha con và làm đăng ký nhận cha, con tại UBND có thẩm quyền. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chi Hà hỏi: Con tôi 15 tuổi đi xe máy điện và ko đội mũ bảo hiểm thì bị xử phạt mức phạt là bao nhiêu? 1. Người dưới 16 tuổi có được điều khiển xe máy điện không? - Theo Điểm g Khoản 1 Điều 34 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định về các loại xe cơ giới bao gồm:+ Xe gắn máy là xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ có vận tốc thiết kế không lớn hơn 50 km/h;+ Nếu động cơ dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích không lớn hơn 50 cm3+ Nếu động cơ dẫn động là động cơ điện thì công suất không lớn hơn 04 kW. => Theo đó, xe máy điện là xe gắn máy với động cơ dẫn động là động cơ điện thuộc loại xe cơ giới. - Theo Điểm a Khoản 1 Điều 59 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định:+ Độ tuổi của người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng được quy định như sau: Người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy => Người dưới 16 tuổi không đủ điều kiện để điều khiển xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ. 2. Người dưới 16 tuổi điều khiển xe máy điện và không đội mũ bảo hiểm bị xử phạt thế nào? - Theo Điểm h Khoản 2 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định:+ Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ khi không đội mũ bảo hiểm. - Theo Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định mức xử phạt với hành vi vi phạm trên cụ thể:+ Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe gắn máy và các loại xe tương tự xe gắn máy - Tuy nhiên, về lỗi giao xe máy điện cho người dưới 16 tuổi chạy (người không đủ điều kiện điều khiển xe máy 2025) thì người giao xe có thể bị xử phạt theo Khoản 10 Điều 32 Nghị định 168/2024/NĐ-CP như sau:+ Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe gắn máy và các loại xe tương tự xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm GIAO XE hoặc ĐỂ CHO người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Cha, mẹ muốn lập di chúc để định đoạt tài sản cho các con nhưng do tuổi cao, sức khỏe yếu hoặc không biết chữ nên không thể tự mình viết di chúc. Khi đó, con cái có thể viết nội dung di chúc theo ý chí của cha, mẹ hay không? Dưới đây là những phân tích theo quy định của pháp luật về vấn đề này. 1. Cha, mẹ có quyền tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản - Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. - Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Người lập di chúc có quyền: Chỉ định người thừa kế, truất quyền, phân định phần di sản,... => Như vậy, về nguyên tắc, cha, mẹ có quyền quyết định tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được để lại cho ai sau khi qua đời. 2. Con cái có thể viết thay di chúc cho cha, mẹ không? Câu trả lời là có. Nhưng việc lập di chúc trong trường hợp này phải tuân thủ những điều kiện chặt chẽ của pháp luật cụ thể: Thứ nhất, di chúc hợp pháp - Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: + Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Thứ hai, Không tự mình viết di chúc thì phải có người làm chứng - Theo Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: + Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc NHƯNG phải có ít nhất là 2 người làm chứng.+ Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng+ Những người làm chứng xác nhận và ký vào bản di chúc. - Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, TRỪ NHỮNG NGƯỜI SAU ĐÂY: + Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. KẾT LUẬN: Như vậy, pháp luật không bắt buộc người lập di chúc phải tự tay viết di chúc trong mọi trường hợp. Nếu cha, mẹ không tự mình viết được thì có thể nhờ con viết hoặc đánh máy bản di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải thể hiện ý chí của chính người lập di chúc và phải có 2 người làm chứng và con không thể tham gia với tư cách là người làm chứng di chúc của bố mẹ. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong đời sống hôn nhân, việc vợ chồng quản lý, sử dụng chung tiền bạc là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải mọi khoản tiền do một bên đang quản lý đều đương nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Vậy chồng tự ý lấy tiền của vợ có bị xử lý về Tội trộm cắp tài sản hay không? Câu trả lời phụ thuộc trước hết vào việc khoản tiền đó là tài sản riêng hay tài sản chung để từ đó xác định trách nhiệm pháp lý. Dưới đây là những phân tích chi tiết về vấn đề này. 1. Chồng lấy tiền là tài sản riêng của vợ có thể phạm tội trộm cắp tài sản? - Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm: + Tài sản có trước khi kết hôn; + Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng; + Tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân và các tài sản khác thuộc sở hữu riêng theo quy định pháp luật. - Nếu khoản tiền là tài sản riêng của vợ mà người chồng tự ý lấy, lén lút chiếm đoạt để sử dụng cho mục đích cá nhân thì có thể bị xem xét về Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự khi đủ các dấu hiệu truy cứu TNHS  cụ thể: + Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định => Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.+ Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 quy định tại Điều luật này=> Bị phạt tù từ 2 năm đến 20 năm. - Pháp luật hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự chỉ vì người thực hiện hành vi là vợ hoặc chồng của người bị mất tài sản. Ví dụ: Chị A có 200 triệu đồng được tặng cho riêng và có căn cứ chứng minh đây là tài sản riêng. Anh B là chồng tự ý chuyển 100 triệu đồng từ tài khoản của chị A sang tài khoản của mình để sử dụng. Nếu chứng minh được hành vi lén lút chiếm đoạt, anh B có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. 2. Nếu tiền là tài sản chung của vợ chồng thì sao? - Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung gồm: + Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh + Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân + Tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung hoặc được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. - Theo Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.”  - Vì vậy, nếu tiền là tài sản chung, việc người chồng tự ý lấy tiền do vợ đang quản lý không cấu thành Tội trộm cắp tài sản, bởi người chồng cũng có quyền đối với tài sản chung. => Trường hợp này có thể phát sinh tranh chấp về việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung và cần xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình. 3. Chồng chiếm đoạt tiền của vợ có thể bị xử phạt hành chính về bạo lực kinh tế? - Ngoài trách nhiệm hình sự, hành vi chiếm đoạt tài sản của thành viên gia đình còn có thể bị xử phạt như sau: Theo Điểm a khoản 1 Điều 44 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định:“Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Chiếm đoạt tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình.” => Như vậy, nếu chồng chiếm đoạt tài sản riêng của vợ, hành vi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng về hành vi bạo lực về kinh tế, nếu thuộc trường hợp xử phạt hành chính. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp có quyền xây dựng chính sách giá, mở rộng mạng lưới phân phối và thu hút khách hàng. Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh không đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp được bắt tay với nhau để gây khó khăn, ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ khỏi thị trường. Đặc biệt, khi các doanh nghiệp đang cạnh tranh trên cùng thị trường cùng thống nhất không giao dịch với một doanh nghiệp khác, tác động của hành vi không chỉ dừng lại ở quan hệ thương mại giữa các bên mà có thể trở thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị pháp luật cấm. Tình huống:Trên thị trường phân phối một loại thiết bị điện, có 5 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó A, B và C là ba doanh nghiệp có thị phần lớn. Thời gian gần đây, D và E là hai doanh nghiệp mới gia nhập thị trường và bắt đầu cạnh tranh bằng cách đưa ra giá bán thấp hơn, tăng chiết khấu cho đại lý và mở rộng mạng lưới phân phối. Lo ngại D và E tiếp tục mở rộng thị phần, A, B và C đã bí mật thỏa thuận với nhau: + Không ký hợp đồng cung cấp hàng hóa cho các đại lý đang hợp tác với D và E;+ Cùng yêu cầu một số nhà cung cấp không bán hàng cho D và E;+ Nếu một đại lý tiếp tục nhập hàng của D hoặc E thì A, B và C sẽ ngừng cung cấp hàng cho đại lý đó; Vấn đề đặt ra: A, B và C có đang thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không? 1. Thế nào là thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường? - Theo Điều 20 trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2004 tuy đã hết hiệu lực nhưng vẫn được xem là tài liệu tham khảo, nhấn mạnh những trường hợp cụ thể của các thỏa thuận nhằm loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận là:+ Cùng thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận + Cùng hành động MỘT trong CÁC hình thức quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 19 như sau: ++ Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hoá, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận; ++ Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp này; ++ Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng thêm quy mô kinh doanh; ++ Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan. 2. Đây có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm? - Trong tình huống trên, A, B và C đều là những doanh nghiệp trên cùng 1 thị trường liên quan (doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận) không cạnh tranh với nhau để loại bỏ D và E (doanh nghiệp không tham gia vào thỏa thuận) một cách độc lập mà đã cùng phối hợp và thống nhất hành động với các nội dung thỏa thuận nhằm loại bỏ khiến hai doanh nghiệp này không thể tiếp tục hoạt động bình thường. => Hành vi trên thuộc một trong các dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo khoản 6 Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018: “Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận.” => Được xác định là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh BỊ CẤM quy định tại Khoản 2 Điều 12 Luật cạnh tranh 2018 cụ thể “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 11 của Luật này” => Không cần phải xét đến rằng việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này có gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường chỉ cần có hành vi cùng thỏa thuận loại bỏ thì đã là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. 3. Mức xử phạt? - Không chỉ bị cấm, hành vi này còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điểm e Khoản 1 Điều 6 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, hành vi thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận của các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan có thể bị:+ Phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm của từng doanh nghiệp là các bên tham gia thỏa thuận ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Tối 18/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 4 bị can gồm: Lê Văn Phú (tức Phú Lê), Lã Thúy Kiều, Phùng Thị Thanh và Nguyễn Thị Hương Lan về các tội danh: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo thông tin điều tra ban đầu, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Lã Thúy Kiều và Lê Văn Phú đã tham gia thành lập Công ty TNHH Dịch vụ Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Phú, Công ty TNHH Thanh Quang Đăng, Công ty TNHH Thương mại Thiên Phú Group. Thông qua 03 công ty nêu trên, Lã Thúy Kiều đã thuê gia công, buôn bán nhiều sản phẩm hàng hóa, quảng cáo trên nhiều nền tảng mạng xã hội với nội dung thổi phồng công dụng để thu hút khách hàng.  Riêng giai đoạn 2021-2025, Công ty Thiên Phú được xác định bán hàng nhưng không lập hóa đơn, không kê khai đầy đủ doanh thu. Hơn 107 tỷ đồng tiền bán hàng được chuyển vào nhiều tài khoản cá nhân của Kiều, Phú và người thân nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán. Vậy các đối tượng có thể phải đối mặt với những chế tài nào? Đối tượng Lê Văn Phú (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Hơn 107 tỷ đồng doanh thu không hạch toán có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Khoản 3 Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định:+ Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trách nhiệm trong việc lập, cập nhật, kiểm tra sổ sách, báo cáo tài chính hoặc tài liệu kế toán mà vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán, gây thiệt hại thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.- Mức hình phạt: Trường hợp phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.  2. Không xuất hóa đơn, lập hóa đơn khống có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? - Theo Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định phụ thuộc vào số lượng hóa đơn, số tiền thu lợi bất chính, mức thiệt hại đối với ngân sách nhà nướcTrường hợp 1: Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng:+ Phôi: từ 50 số - dưới 100 số+ Đã ghi nội dung: từ 10 số - dưới 30 số + Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng - dưới 100.000.000 đồng=> Phạt tiền từ 50.000.000 đồng - 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Trường hợp 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;đ) Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;e) Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên;g) Tái phạm nguy hiểm.=> Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của các đối tượng. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chị Ngân hỏi: Trước đây khi ly hôn, do tôi không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Tòa án đã giao con gái cho chồng cũ trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay tôi đã có công việc ổn định, có điều kiện tốt hơn để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Tôi muốn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao con cho tôi chăm sóc thì có được không? Ngoài ra, thời gian gần đây con gái thường xuyên nói nhớ mẹ và muốn được ở với tôi. Chồng cũ biết việc này nên đã hạn chế, thậm chí có lúc không cho tôi gặp và đón con. Tôi phải làm thế nào để bảo vệ quyền thăm nom, chăm sóc con của mình? Trả lời: 1. Có được thay đổi người trực tiếp nuôi con không? - Theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc chủ thể có quyền yêu cầu theo quy định pháp luật KHI:+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; hoặc+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. - Và Theo Khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. => Vì vậy, nếu con gái của chị hiện nay đã từ đủ 7 tuổi trở lên thì việc cháu thường xuyên thể hiện mong muốn được ở với mẹ là yếu tố Tòa án có thể xem xét. Tuy nhiên, nguyện vọng của con không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án vẫn phải đánh giá toàn diện điều kiện của cả cha và mẹ và đặt lợi ích của con lên hàng đầu. 2. Chồng cũ có quyền hạn chế việc chị thăm con không? Không. Bởi: - Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.  - Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha, mẹ trực tiếp nuôi con và các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.  => Do đó, việc chồng cũ chỉ vì biết con gái nhớ mẹ mà tự ý ngăn cản chị gặp con, hạn chế việc thăm nom của chị là trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp Tòa án có quyết định hạn chế quyền thăm nom. Mức xử phạt với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (Điều 42 Nghị định 282/2025/NĐ-CP):+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trừ trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án.   Chồng cũ chị ngăn cản việc chị thăm nom con đồng thời con có nguyện vọng ở với mẹ và chị có điều kiện nuôi, dạy con tốt hơn thì đây là những điều kiện cần thiết để chị có thể được toà đồng ý yêu cầu thay đổi quyền nuôi con. Nên chị hãy làm đơn yêu cầu thay thổi quyền nuôi con đến toà án nhé. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Bùi Xuân Huấn được biết đến với biệt danh là "Huấn hoa hồng" thường tập trung hoạt động chủ yếu trên không gian mạng, trên mạng xã hội Facebook, ứng dụng TikTok và thông qua đó để tạo dựng hình ảnh gây ảnh hưởng với cộng đồng mạng, thu hút hàng triệu lượt người theo dõi bằng những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; phát ngôn, truyền bá các nội dung phản cảm, tạo ra những tranh cãi, mâu thuẫn với những cá nhân khác có ảnh hưởng trên không gian mạng... Trước đó, ngày 6/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Xuân Huấn và các đối tượng liên quan. Đồng thời, triệu tập các đối tượng để lấy lời khai, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Ngày 10/8/2026, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với 5 bị can gồm: Bùi Xuân Huấn, Hoàng Ngọc Cường, Trương Thị Thương, Phạm Thị Ngọc Linh và Kiều Thị Hồng về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Mở rộng điều tra, ngày 14/8, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Xuân Huấn về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với những hành vi này, Bùi Xuân Huấn có thể bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật? Dưới đây là những phân tích về vấn đề này. Đối tượng Bùi Xuân Huấn (đứng giữa) tại cơ quan công an - Ảnh: BCA 1. Chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng và trách nhiệm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Theo thông tin ban đầu xác định, thông qua sức ảnh hưởng trên mạng xã hội từ hoạt động bán hàng online, kêu gọi từ thiện Bùi Xuân Huấn đã chiếm đoạt tiền của nhiều người khác với tổng số tiền hơn 3 tỷ đồng. Để xác định trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ phương thức mà Huấn sử dụng để có được tài sản của người khác.  - Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định Người nào có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Mức hình phạt: + Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân.=> Như vậy, nếu số tiền hơn 3 tỷ đồng được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là số tiền Huấn thực tế chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Điều 174 thì sẽ phải đối mặt với mức hình phạt như trên. 2. Doanh thu hơn 300 tỷ đồng không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để ngoài sổ sách kế toán và trách nhiệm hình sự - Theo thông tin được công bố, hoạt động kinh doanh này có tổng doanh thu hơn 300 tỷ đồng nhưng Bùi Xuân Huấn cùng các đồng phạm không xuất hóa đơn giá trị gia tăng, để doanh thu ngoài sổ sách kế toán và gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước. - Vì vậy, Theo Điều 221 Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi trên đã thuộc vào trường hợp quy định tại Khoản 3 vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. => Mức hình phạt: Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt còn phụ thuộc vào vai trò, động cơ, mục đích và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, của Bùi Xuân Huấn cùng đồng phạm. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695