Tất cả sản phẩm

Anh Đạt hỏi: Bố mẹ tôi mất có để lại một mảnh đất cho 7 anh chị em. Hiện nay, 6 người đều thống nhất muốn bán đất để chia tiền, nhưng người em út nhất quyết không đồng ý vì muốn giữ lại đất. Xin hỏi, 6 người còn lại có quyền tự bán mảnh đất này không? Nếu người em út không chịu ký giấy tờ thì chúng tôi phải làm thế nào? 1. Sáu người có được tự ý bán toàn bộ mảnh đất không? Theo khoản 2 Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung hợp nhất phải được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định pháp luật. => Do đó, nếu mảnh đất vẫn thuộc quyền sử dụng chung của cả 7 người thì 6 người không thể tự ý bán toàn bộ thửa đất khi người còn lại không đồng ý.Tuy nhiên, nếu quyền sử dụng đất đã được phân chia và xác định phần quyền riêng của từng người thì mỗi người có thể định đoạt phần quyền của mình theo quy định pháp luật, không được tự ý chuyển nhượng phần của người khác. 2. Cần làm gì khi một người nhất quyết không đồng ý bán đất? Thứ nhất, ưu tiên thỏa thuận với người không đồng ý bán.Các thành viên có thể trao đổi về phương án mua lại phần quyền của người không muốn bán, phân chia đất thành các phần riêng hoặc thống nhất phương án bán đất và chia tiền theo tỷ lệ được hưởng. Thứ hai, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu không thể thỏa thuận.Nếu việc thương lượng không đạt kết quả, người có quyền lợi liên quan có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung hoặc di sản thừa kế. Theo Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp những người thừa kế không thống nhất được việc phân chia di sản bằng hiện vật thì di sản có thể được bán để chia giá trị. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng. 
Đang thuê trọ ổn định, người thuê bất ngờ nhận được thông báo nhà trọ đã chuyển sang chủ sở hữu mới và tiền thuê sẽ tăng từ tháng tiếp theo. Một số trường hợp, chủ nhà mới còn yêu cầu người thuê ký lại hợp đồng với mức giá cao hơn hoặc chuyển đi nếu không đồng ý. Vậy việc thay đổi chủ sở hữu có làm chấm dứt hợp đồng thuê trọ trước đó không? Chủ nhà mới có quyền tự ý tăng tiền thuê và người thuê cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? 1. Thay đổi chủ sở hữu nhà trọ có làm chấm dứt hợp đồng thuê không? - Theo khoản 2 Điều 173 Luật Nhà ở năm 2023: "Trường hợp chủ sở hữu nhà ở chuyển quyền sở hữu nhà ở đang cho thuê cho người khác mà thời hạn thuê nhà ở vẫn còn thì bên thuê nhà ở được tiếp tục thuê đến hết thời hạn hợp đồng; chủ sở hữu nhà ở mới có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà ở đã ký kết trước đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác"  --> Như vậy, việc nhà trọ được bán hoặc chuyển quyền sở hữu cho người khác không đồng nghĩa với việc hợp đồng thuê đang có hiệu lực tự động chấm dứt. Ví dụ, người thuê ký hợp đồng thuê phòng trong thời hạn 12 tháng với giá 2.500.000 đồng/tháng. Sau 04 tháng, chủ nhà bán toàn bộ khu trọ cho người khác. Trong trường hợp này, người thuê vẫn có quyền tiếp tục sử dụng phòng đến hết thời hạn hợp đồng và chủ nhà mới phải thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận, trừ khi các bên thống nhất thay đổi. 2. Chủ nhà mới có được tự ý tăng tiền thuê trọ không? - Khoản 1 Điều 170 Luật Nhà ở năm 2023 quy định giá thuê nhà ở do bên cho thuê và bên thuê thỏa thuận, trừ trường hợp Nhà nước có quy định về giá thuê. - Đồng thời theo khoản 2 Điều 173 Luật nhà ở 2023 thì  chủ sở hữu nhà ở mới có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê nhà ở đã ký kết trước đó. --> Do đó, nếu hợp đồng thuê trọ vẫn còn thời hạn và đã xác định mức giá thuê cố định, chủ nhà mới không được tự ý tăng giá chỉ với lý do đã thay đổi chủ sở hữu. Việc điều chỉnh giá thuê phải căn cứ vào nội dung hợp đồng hoặc sự thỏa thuận hợp pháp giữa các bên. 3. Nếu không đồng ý tăng tiền thuê, người thuê có bị buộc chuyển đi không? - Theo khoản 1 Điều 172 Luật Nhà ở năm 2023, trong thời hạn thuê nhà theo hợp đồng, bên cho thuê không được đơn phương chấm dứt hợp đồng và thu hồi nhà đang cho thuê, trừ những trường hợp pháp luật cho phép. --> Như vậy, nếu hợp đồng vẫn còn hiệu lực, người thuê thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và không có căn cứ chấm dứt hợp đồng theo quy định, chủ nhà mới không thể chỉ vì người thuê không đồng ý tăng giá mà buộc họ chuyển đi. - Mặt khác, điểm b khoản 3 Điều 172 Luật Nhà ở năm 2023 quy định người thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bên cho thuê tăng giá thuê bất hợp lý hoặc tăng giá mà không thông báo trước theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi thực hiện quyền này, người thuê phải thông báo cho bên cho thuê trước ít nhất 30 ngày bằng văn bản hoặc hình thức khác theo thỏa thuận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nếu vi phạm nghĩa vụ thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Chị Phượng hỏi: Tôi đăng ký kết hôn tại Việt Nam, nhưng sau khi kết hôn, chồng tôi xuất cảnh sang Đức sinh sống và làm việc. Nay tôi muốn ly hôn nhưng không biết chồng đang ở địa chỉ nào tôi đã nhiều lần hỏi thông tin nơi ở nhưng không cho tôi biết. Vậy thì tôi có đơn phương ly hôn được không.  Dưới đây, Công ty Luật Phương Bình xin đưa ra những phân tích và hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo quy định pháp luật hiện hành. 1. Chồng xuất cảnh ra nước ngoài, không rõ địa chỉ, vợ có được đơn phương ly hôn không? Câu trả lời là có. Việc người chồng xuất cảnh ra nước ngoài, không cung cấp địa chỉ không làm mất quyền yêu cầu ly hôn của người vợ. Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đồng thời, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:“ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.” Trong trường hợp chồng xuất cảnh ra nước ngoài không rõ địa chỉ hiện tại, người vợ cần:+ Cung cấp địa chỉ cư trú cuối cùng của người chồng tại Việt Nam, thông tin về thời điểm xuất cảnh, quốc gia dự kiến đến, số điện thoại, thông tin người thân hoặc các tài liệu khác có thể hỗ trợ việc xác minh nơi cư trú của chồng (nếu có). + Theo Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng nếu không biết nơi cư trú, làm việc hiện tại của bị đơn. => Do đó, việc không xác định được địa chỉ hiện tại của người chồng không đồng nghĩa với việc người vợ đương nhiên không thể khởi kiện ly hôn tại Việt Nam. 2. Hồ sơ và thủ tục đơn phương ly hôn khi chồng đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ Hồ sơ đơn phương ly hôn gồm:+ Đơn khởi kiện về việc ly hôn;+ Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn;+ Bản sao có chứng thực Căn cước công dân hoặc giấy tờ tùy thân của người vợ;+ Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con chung);+ Tài liệu, chứng cứ về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung (nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết );+ Tài liệu chứng minh người chồng đã xuất cảnh, thông tin về nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam, thông tin liên lạc (nếu có). ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Thực trạng và phương án xử lý 12 dự án. Sáng 28/10, HĐND TP Hà Nội thông qua Nghị quyết cơ chế, chính sách đặc thù và biện pháp khắc phục hậu quả để giải quyết tồn tại vi phạm về đất đai, trật tự xây dựng gắn với cải tạo, chỉnh trang đô thị tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong đó, những sai phạm của  chủ đầu tư xây dựng sai quy hoạch, gia tăng diện tích sàn, chia nhỏ căn hộ, làm tăng quy mô dân số và gây áp lực nghiêm trọng lên hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Theo giấy phép xây dựng chỉ có 6.759 căn nhưng thực tế đã xây dựng tới 24.943 căn vượt 18.184 căn. Một số căn hộ tại các dự án VP3, VP5, CT6 Kiến Hưng, CT5 Tân Triều đã được cấp sổ còn nhiều dự án khác như VP6, HH1, HH2, HH3, HH4 Linh Đàm. Nghị quyết đã đưa ra hai nhóm xử lý đối với hạng mục vi phạm:-  Nhóm tồn tại đáp ứng đủ điều kiện: Phải đã hoàn thành và đi vào vận hành; bảo đảm an toàn chịu lực, PCCC, cứu nạn cứu hộ; đáp ứng đủ các chỉ tiêu hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, đỗ xe) và hạ tầng xã hội (trường mầm non, tiểu học, THCS, không gian sinh hoạt cộng đồng Khoảng cách giữa các khối tháp tuân thủ quy chuẩn (khoảng cách cạnh dài ≥ 17,5 m; đầu hồi ≥ 10,5 m; có ít nhất 3 mặt đứng đạt tiêu chuẩn), không vi phạm chỉ giới đường đỏ hay hành lang an toàn. Nếu thiếu hạ tầng, phải có phương án khắc phục kỹ thuật khả thi. Đối với nhà ở thấp tầng không nằm trên đất quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và phải thực hiện cải tạo, chỉnh trang theo phương án được duyệt.- Nhóm buộc phá dỡ toàn bộ hoặc một phần áp dụng đối với các công trình cao tầng không đáp ứng các tiêu chuẩn bắt buộc về an toàn, khoảng cách, chỉ giới hoặc hạ tầng mà không có phương án khắc phục khả thi. 2. Người mua căn hộ thuộc diện phải phá dỡ được bồi thường như nào? Để hiện thực hóa nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình theo Luật Thủ đô 2026, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Việc Thành phố cho phép người dân thuộc diện di dời được bồi thường, ưu tiên mua nhà ở tại dự án của chủ đầu tư hoặc mua/thuê mua nhà ở xã hội không qua bốc thăm dựa trên thẩm quyền của UBND Thành phố trong việc quyết định chuyển đổi linh hoạt giữa các loại hình nhà ở và tạo lập quỹ nhà ở phục vụ an sinh xã hội.Về chính sách bồi thường và hỗ trợ người mua nhà thuộc diện di dời sẽ được nhận tiền bồi thường từ chủ đầu tư và bàn giao trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận đủ tiền theo mức bồi thường do Hội thẩm định giá hoặc Tòa án xác nhận.  Người bị di dời được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở xã hội không cần qua bốc thăm hoặc ưu tiên mua căn hộ khác của chủ đầu tư. Hộ dân có thu nhập duy nhất từ kinh doanh tại diện tích khối đế bị thu hồi/chuyển đổi công năng được hỗ trợ 6 tháng lương tối thiểu vùng.Để bảo vệ quyền lợi chính đáng và ổn định cuộc sống cho người mua nhà ngay tình (Người mua nhà hợp pháp, không có lỗi không phải chịu chi phí do việc khắc phục hậu quả của chủ đầu tư). Nghĩa vụ bồi thường cho người dân được ưu tiên thực hiện trước các nghĩa vụ tài chính và nộp ngân sách của chủ đầu tư. Người không thuộc diện di dời được tiếp tục thực hiện hợp đồng và sẽ được cấp sổ đỏ sau khi chủ đầu tư và người mua hoàn tất nghĩa vụ tài chính 3. Trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ đầu tư sẽ được xử lý như nào? Chủ đầu tư các dự án được phép tồn tại có điều kiện buộc phải nộp lại số tiền bất hợp pháp về xây dựng được tính như sau:Số tiền nộp = 50% * (Diện tích sàn vi phạm* Đơn giá xây dựng 1m2 theo suất vốn đầu tư)Chủ đầu tư đối với các trường hợp phải di dời do vướng phần công trình phải phá dỡ, chuyển đổi công năng được nhận tiền bồi thường, được ưu tiên mua nhà ở xã hội không cần bốc thăm, đồng thời được hỗ trợ ổn định sản xuất kinh doanh (tường đương 6 tháng lương tối thiểu vùng chi trả 1 lần). Tất cả đều do chủ đầu tư chịu toàn bộ chi phí. Nếu chủ đầu tư không chấp hành, cơ quan chức năng sẽ cưỡng chế thực hiện hoặc cưỡng chế tài sản để chi trả.  ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Nguồn ảnh: Báo VietNamNet Ngày 02/11/2026, Bà Chu Thị Thành (66 tuổi), cựu Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn Thiên Minh Đức bị đưa ra xét xử về các tội “Tham ô tài sản” và “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”. Theo cáo trạng, bà Thành bị xác định là người chủ mưu, chỉ đạo thực hiện hành vi chiếm đoạt hơn 79 tỷ đồng từ Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. Ngoài ra, nhóm bị cáo còn thực hiện hành vi bán khống 153 hóa đơn, thu lợi bất chính hơn 20 tỷ đồng. Đáng chú ý, trong quá trình điều tra, bà Chu Thị Thành cùng các bị can khác đã chủ động nộp hơn 100 tỷ đồng để khắc phục toàn bộ thiệt hại liên quan đến vụ án. Riêng bà Thành đã nộp hơn 99 tỷ đồng. Việc chủ động hoàn trả toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt đặt ra vấn đề pháp lý: Người bị truy tố về tội tham ô tài sản có được miễn trách nhiệm hình sự nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án? 1. Khắc phục toàn bộ thiệt hại có đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự? Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung) quy định:- Được miễn trách nhiệm hình sự khi có MỘT trong những căn cứ sau đây:+ Do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;+ Khi có quyết định đại xá. - Có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có MỘT trong các căn cứ sau đây:+ Do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;+ Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;+ Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn+ Có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận. Như vậy, có thể thấy, việc tự nguyện nộp lại tiền, khắc phục toàn bộ thiệt hại không phải là căn cứ độc lập để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự. Đặc biệt, đối với hành vi tham ô tài sản, đây là tội phạm xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quyền sở hữu tài sản.=> Việc người phạm tội hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt không làm mất đi tính chất nguy hiểm của hành vi đã thực hiện, cũng không đồng nghĩa với việc trách nhiệm hình sự được chấm dứt.=> Do đó, dù bà Chu Thị Thành đã nộp hơn 99 tỷ đồng để khắc phục hậu quả, nhưng tình tiết này không đồng nghĩa với việc bà đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự đối với các tội danh bị truy tố. 2. Nộp lại hơn 99 tỷ đồng có được xem là tình tiết giảm nhẹ hình phạt? + Mặc dù không đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, việc chủ động khắc phục hậu quả vẫn có ý nghĩa quan trọng khi xem xét quyết định hình phạt. Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”. => Đây là căn cứ để Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với người phạm tội khi lượng hình. Tuy nhiên, mức hình phạt cụ thể vẫn thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án trên cơ sở đánh giá toàn diện vụ án. Như vậy, khắc phục toàn bộ thiệt hại không đồng nghĩa với việc được miễn trách nhiệm hình sự. Người bị truy tố vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện, dù đã hoàn trả toàn bộ số tiền gây thiệt hại. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Người đi bộ sang đường cao tốc bị ô tô đâm: Tài xế có phải chịu trách nhiệm? Đường cao tốc là tuyến đường dành riêng cho các phương tiện cơ giới, nơi các xe lưu thông với tốc độ cao. Vì vậy, việc người đi bộ tự ý đi vào hoặc băng qua đường cao tốc tiềm ẩn nguy cơ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi xảy ra tai nạn giữa ô tô và người đi bộ, liệu tài xế có đương nhiên phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không? Vấn đề này cần được xem xét trên cơ sở quy định pháp luật và nguyên nhân cụ thể của vụ tai nạn. 1. Người đi bộ sang đường cao tốc bị ô tô đâm có vi phạm pháp luật không? Theo khoản 3 Điều 25 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: "Xe máy chuyên dùng có tốc độ thiết kế nhỏ hơn tốc độ tối thiểu quy định đối với đường cao tốc, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ, xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ, người đi bộ không được đi trên đường cao tốc, trừ người, phương tiện giao thông đường bộ và thiết bị phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc." => Như vậy, nếu một người tự ý đi bộ hoặc băng qua đường cao tốc mà không thuộc trường hợp ngoại lệ thì hành vi này là vi phạm quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, người đi bộ đi vào đường cao tốc có thể bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng. 2. Người đi bộ sang đường cao tốc bị ô tô đâm, tài xế có phải chịu trách nhiệm? Trách nhiệm của tài xế được xác định căn cứ vào lỗi, hành vi vi phạm và hậu quả thực tế của vụ tai nạn.  - Trường hợp tài xế điều khiển ô tô đúng tốc độ, đúng làn đường, tuân thủ quy định về an toàn giao thông và không có khả năng tránh tai nạn khi người đi bộ bất ngờ xuất hiện thì hậu quả pháp lý: + Về trách nhiệm hình sự: Tài xế không mặc nhiên chịu trách nhiệm hình sự khi không có yếu tố lỗi trong trường hợp này + Về trách nhiệm bội thường: Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác." => Do trường hợp này lỗi hoàn toàn là ở phía người đi bộ nên tài xế không phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. - Trường hợp tài xế có hành vi vi phạm như chạy quá tốc độ, thiếu chú ý quan sát, không xử lý tình huống trong khả năng cho phép hoặc vi phạm quy định an toàn giao thông khác dẫn đến tai nạn thì có thể phải chịu hậu quả pháp lý sau: + Về trách nhiệm hình sự: Điều 260 Bộ luật Hình sự, người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây ra hậu quả thuộc các trường hợp luật định có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. + Về trách nhiệm bồi thường: Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,..." và "Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác." => Do thiệt hại xảy ra do cả lỗi của tài xế chứ không do hoàn toàn lỗi của người đi bộ nên tài xế vẫn phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật quy định nếu có hành vi vi phạm. Kết luận Người đi bộ tự ý sang đường cao tốc là hành vi vi phạm pháp luật và tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi xảy ra va chạm với ô tô, trách nhiệm của tài xế không được xác định một cách mặc nhiên mà phải căn cứ vào nguyên nhân, lỗi của các bên và hậu quả thực tế. Nếu tài xế không vi phạm quy định giao thông và tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi của người đi bộ thì có thể được miễn trách nhiệm trong những trường hợp pháp luật quy định. Ngược lại, nếu tài xế có lỗi dẫn đến tai nạn thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Khi nào chủ nhà bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Chủ nhà cho mượn địa điểm, nhà ở để tổ chức đánh bạc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự 2015"1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:a) Tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;b) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên;c) Tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;d) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:a) Có tính chất chuyên nghiệp;b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;c) Tái phạm nguy hiểm.3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."Như vậy, chủ nhà cho mượn hoặc sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để người khác đánh bạc hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo Điều 322 Bộ luật Hình sự. Cụ thể, ở khung cơ bản, chủ nhà sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm khi chứa chấp, cho mượn địa điểm cho từ 10 người đánh bạc trở lên cùng một lúc hoặc cho từ 02 chiếu bạc trở lên mà tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên . Trường hợp hành vi cho mượn nhà/địa điểm mang tính chất chuyên nghiệp, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên hoặc tái phạm nguy hiểm, chủ nhà phải đối mặt với khung tăng nặng là phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Ngoài ra, chủ nhà phạm tội còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản. 2. Trường hợp chưa đến mức xử lý hình sự thì bị phạt thế nào? Căn cứ điểm b khoản 4 điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy đinh về những trường hợp xử lý hành chính về tổ chức đánh bạc:“4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;b) Dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này.”Như vậy, Hành vi dùng nhà hay địa điểm do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc được xác định là chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự khi mức độ vi phạm chưa đạt các định mức cấu thành Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 có các yếu tố phụ trợ hay tiền án, tiền sự liên quan Khi đó, người vi phạm không bị xử lý hình sự mà bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, đồng thời bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp (như số tiền thu được từ việc cho thuê hay chứa chấp).Nếu chủ nhà biết rõ người thuê/mượn nhà sử dụng địa điểm để tổ chức hay đánh bạc mà vẫn cố ý cho thuê, cho mượn hoặc chứa chấp, người này đã có lỗi cố ý. Trường hợp quy mô vụ việc đạt hoặc vượt các ngưỡng định lượng tại Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, chủ nhà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (hoặc với vai trò đồng phạm giúp sức). Trường hợp quy mô vụ việc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, chủ nhà sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.Nếu chủ nhà cho thuê nhà hợp pháp (theo hợp đồng cho thuê nhà ở, mặt bằng kinh doanh thông thường) và hoàn toàn không biết, không thể biết việc người thuê tự ý biến nơi đó thành điểm đánh bạc, chủ nhà không có lỗi cố ý chứa chấp. Tuy nhiên, nếu là chủ sở hữu, người quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ mà do thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra hoạt động đánh bạc tại cơ sở của mình thì có thể bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo điểm đ khoản 3 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936456945 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Theo Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024, trường hợp công trình chưa bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy (PCCC) nhưng hồ sơ đã được hợp thức hóa, trách nhiệm pháp lý thuộc về các bên liên quan tùy theo vai trò và hành vi vi phạm. 1. Chủ đầu tư và chủ sở hữu công trình Căn cứ khoản 5 Điều 8 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024: “5. Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ phương tiện giao thông, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình, sản xuất, lắp ráp, đóng mới, hoán cải phương tiện giao thông có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy trong việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, thẩm định, thi công, giám sát thi công, nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.” Như vậy, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình có trách nhiệm thực hiện đúng các yêu cầu về PCCC trong thẩm định, thi công, giám sát và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu về PCCC theo khoản 3 điều 18 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024: “ Chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ phương tiện giao thông chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy đối với công trình, phương tiện giao thông”Do đó, nếu chủ đầu tư, chủ sở hữu gian lận, nghiệm thu khống hoặc cố tình đưa công trình chưa bảo đảm an toàn PCCC vào sử dụng thì chính chủ đầu tư/chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp đối với vi phạm của mình 2.  Đơn vị tư vấn thiết kế, thi công, giám sát và kiểm định. Các đơn vị tư vấn, thi công, giám sát phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ thiết kế, quá trình thi công và các biên bản nghiệm thu PCCC do mình thực hiện và xác nhận. Nghiêm cấm các hành vi làm giả, làm sai lệch kết quả thẩm định thiết ké về PCCC, kết quả kiểm tra nghiệm thu về PCCC được quy định tại Điều 14 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024:“5. Làm giả, làm sai lệch kết quả thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, kết quả kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy.”Như vậy, nếu đơn vị tư vấn hay thi công cố ý làm sai lệch bản vẽ, thi công không đúng chuẩn hoặc ký khống hồ sơ nghiệm thu thì chính đơn vị tư vấn, thi công đó phải chịu trách nhiệm pháp lý độc lập đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ chuyên môn của mình. 3. Cơ quan quản lý chuyên ngành và cán bộ thẩm định. Cơ quan Công an và cơ quan chuyên môn về xây dựng có trách nhiệm thẩm định thiết kế và kiểm tra công tác nghiệm thu PCCC theo thẩm quyền theo điểm b khoản 1 Điều 17 của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024.Luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng, lạm dụng việc thực hiện nhiệm vụ PCCC để vi phạm pháp luật, nhũng nhiễu hoặc xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cán bộ, người có thẩm quyền nếu xác nhận, nghiệm thu sai sự thật hoặc hợp thức hóa hồ sơ cho công trình chưa đạt chuẩn sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm Nếu cán bộ, cơ quan có thẩm quyền thiếu trách nhiệm, nhắm mắt bỏ qua hoặc hợp thức hóa hồ sơ cho công trình chưa đạt chuẩn thì chính cá nhân cán bộ và cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm công vụ của mình. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số, ký giấy miễn trách nhiệm nếu người mua gây tai nạn: Có hợp pháp không? Khi bán xe máy, nhiều người cho rằng chỉ cần giao xe, nhận đủ tiền và yêu cầu người mua ký giấy cam kết “mọi vi phạm giao thông hoặc tai nạn phát sinh sau khi mua xe thì người mua tự chịu trách nhiệm” là có thể yên tâm. Tuy nhiên, trên thực tế, giấy cam kết này không đương nhiên giúp người bán được miễn mọi trách nhiệm pháp lý, đặc biệt khi thủ tục thu hồi đăng ký xe, biển số xe chưa được thực hiện theo quy định. Vậy người bán xe có thể dùng giấy cam kết để tránh trách nhiệm nếu người mua gây tai nạn hay không? Nếu đã giao xe nhưng vẫn chưa làm thủ tục thu hồi đăng ký, biển số thì người bán có thể gặp những rủi ro pháp lý nào? 1. Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số có đúng quy định pháp luật không? Điều 16 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định về hồ sơ đăng ký sang tên xe trong đó có hồ sơ thu hồi chứng nhận đăng ký xe và biển số xe. Theo thủ tục này, người bán cần thực hiện nghĩa vụ thu hồi trước khi người mua làm thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.  => Như vậy, sau khi bán xe, người bán không nên chỉ giao xe, giấy đăng ký và biển số cho người mua rồi cho rằng giao dịch đã hoàn tất. Nếu không thực hiện thủ tục thu hồi theo quy định, người bán có thể gặp khó khăn khi chứng minh tình trạng chuyển quyền sở hữu, giải trình với cơ quan chức năng hoặc xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến chiếc xe. 2. Ký giấy cam kết “người mua gây tai nạn thì tự chịu trách nhiệm” có hợp pháp không? Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác." Theo khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác." => Như vậy, nếu người bán đã thực sự giao xe cho người mua quản lý, sử dụng và người mua trực tiếp gây tai nạn thì trách nhiệm bồi thường cần căn cứ vào việc ai chiếm hữu, sử dụng xe, lỗi của các bên và các tình tiết cụ thể. Không thể chỉ dựa vào việc người bán vẫn đứng tên trên giấy đăng ký xe để mặc nhiên kết luận người bán phải bồi thường trong mọi trường hợp. Ngược lại, cũng không thể khẳng định người bán được miễn toàn bộ trách nhiệm chỉ vì đã có giấy cam kết. Thỏa thuận giữa hai bên không tự động loại trừ trách nhiệm pháp lý đối với người bị thiệt hại hoặc trách nhiệm hành chính, hình sự nếu có căn cứ phát sinh theo luật. Giá trị của giấy cam kết chủ yếu nằm ở việc chứng minh thỏa thuận, thời điểm giao xe và trách nhiệm mà các bên đã nhận, chứ không phải là căn cứ bảo đảm người bán không bao giờ bị liên đới giải quyết vụ việc. 3. Người bán có thể gặp rủi ro gì nếu người mua gây tai nạn khi xe chưa sang tên? - Khoản 7 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định:  "Tổ chức, cá nhân đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe tiếp tục chịu trách nhiệm của chủ xe khi chưa thực hiện thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe đối với trường hợp phải thu hồi theo quy định." - Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 6 Văn bản hợp nhất số 41/VBHN-BCA 2025 quy định "Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe, chủ xe đứng tên trong chứng nhận đăng ký xe phải làm thủ tục thu hồi; trường hợp quá thời hạn trên mà chủ xe không làm thủ tục thu hồi hoặc giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển quyền sở hữu xe làm thủ tục thu hồi thì trước khi giải quyết người có thẩm quyền thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định..." => Từ các quy định trên, có thể thấy người bán cần lưu ý ba vấn đề: 1. Nếu người mua vi phạm giao thông hoặc gây tai nạn, người bán có thể phải giải trình, cung cấp giấy tờ mua bán và chứng cứ chứng minh đã giao xe cho người mua. Việc vẫn đứng tên đăng ký có thể khiến người bán gặp khó khăn khi xác minh vụ việc, nhưng không đồng nghĩa người bán đương nhiên phải chịu mọi lỗi vi phạm của người mua. 2. Nếu xảy ra tai nạn gây thiệt hại về người hoặc tài sản, trách nhiệm bồi thường được căn cứ vào tình trạng quản lý, sử dụng xe, lỗi và các tình tiết liên quan. Giấy cam kết giữa hai bên là một nguồn chứng cứ cần xem xét, không thay thế việc xác định trách nhiệm theo pháp luật. 3. Người bán có thể bị xử lý đối với việc không thực hiện thủ tục thu hồi đăng ký xe, biển số đúng thời hạn nếu hành vi đó thuộc trường hợp bị xử phạt theo quy định. Việc người mua đã ký cam kết tự chịu trách nhiệm không làm mất đi nghĩa vụ thủ tục này của người bán. Kết luận Bán xe máy nhưng không thu hồi biển số, đồng thời yêu cầu người mua ký giấy cam kết tự chịu trách nhiệm nếu gây tai nạn, không phải là cách bảo đảm người bán được miễn hoàn toàn trách nhiệm pháp lý. Thỏa thuận vẫn có thể có giá trị chứng minh quan hệ mua bán và việc giao xe, nhưng không thể thay thế các thủ tục đăng ký, thu hồi theo quy định hoặc loại trừ mọi trách nhiệm phát sinh theo luật. Để hạn chế rủi ro, sau khi bán xe, người bán nên lập giấy tờ chuyển quyền sở hữu rõ ràng, lưu giữ chứng từ giao nhận và thanh toán, thực hiện thủ tục thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe đúng thời hạn; đồng thời phối hợp để người mua hoàn tất thủ tục đăng ký sang tên. Đây mới là những bước quan trọng để chứng minh giao dịch đã diễn ra và hạn chế các tranh chấp có thể phát sinh sau khi giao xe. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Việc nhận thù lao (như 200 triệu đồng) để đứng tên hộ bất động sản (đất đai) tưởng chừng là công việc đơn giản nhưng ẩn chứa những rủi ro pháp lý rất lớn. Tùy thuộc vào bản chất dòng tiền, mục đích của người nhờ đứng tên và hành vi cụ thể, người đứng tên hộ có thể vướng vào các rủi ro Dân sự và Tội danh Hình sự 1. Giao dịch đứng tên hộ có được nhà nước thừa nhận không? Mục đích của người nhờ đứng tên là gì? Theo quy định của pháp luật đất đai, người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) là chủ thể được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Điều 28 Luật Đất đai 2024 đã xác định cụ thể các đối tượng được phép nhận quyền sử dụng đất bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài (với điều kiện được phép nhập cảnh vào Việt Nam). Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành hoàn toàn không có quy định nào đề cập hay ghi nhận việc “đứng tên hộ”. Về mặt quyền hạn pháp lý, Điều 26 và Điều 27 Luật Đất đai 2024 trao cho người sử dụng đất đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đất đai của mình. Trong công tác quản lý thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ căn cứ duy nhất vào thông tin đăng ký trên Giấy chứng nhận để xác định chủ thể sử dụng đất. Về rủi ro pháp lý, người có tên trên Sổ đỏ mặc nhiên được pháp luật xem là chủ thể có toàn quyền đối với thửa đất. Ngược lại, thỏa thuận nhờ người khác đứng tên hộ là giao dịch không được pháp luật thừa nhận, không được Nhà nước bảo vệ khi xảy ra mâu thuẫn hay tranh chấp.Thực chất, việc thuê người đứng tên hộ đất đai là thủ đoạn không minh bạch nhằm lách luật, trốn thuế hoặc tẩu tán và che giấu tài sản bất minh:- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, do bị hạn chế quyền tiếp cận và đứng tên bất động sản tại Việt Nam, nhiều kiều bào đã gửi tiền về nhờ người thân trong nước đứng tên trên Giấy chứng nhận nhằm "lách" các rào cản pháp lý.- Cá nhân không đáp ứng điều kiện nhận chuyển nhượng phổ biến nhất là việc nhờ người dân địa phương đứng tên mua đất trồng lúa hoặc nhờ người khác mua nhà ở xã hội, nhằm hợp thức hóa các tiêu chuẩn khắt khe theo quy định như "trực tiếp sản xuất nông nghiệp" hay thuộc đối tượng được hưởng chính sách nhà ở.- Che giấu hoặc tẩu tán tài sản nhờ đứng tên hộ còn được dùng như một phương hại nhằm cất giấu tài sản bất minh, né tránh nghĩa vụ tài chính hoặc ngăn chặn việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong và trước thời điểm ly hôn. 2.  Rủi ro pháp lý về hình sự đối với người được nhờ đứng tên Nhận đứng tên hộ tài sản không rõ nguồn gốc khiến bạn đối mặt với nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội rửa tiền, Tội chứa chấp tài sản do phạm tội mà có hoặc bị xác định là đồng phạm tẩu tán tài sản phạm tội.-    Tội rửa tiền (Điều 324 Bộ luật Hình sự): Đây là rủi ro hình sự lớn nhất. Nếu tiền mua đất do người nhờ đứng tên phạm tội mà có (như tham ô, lừa đảo, trốn thuế, buôn lậu...) và người đứng tên hộ biết hoặc có cơ sở để biết nguồn gốc bất hợp pháp nhưng vẫn nhận đứng tên giúp nhằm hợp thức hóa dòng tiền.-    Đồng phạm giúp sức các Tội phạm kinh tế, tham nhũng: Người đứng tên hộ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm giúp sức trong các tội danh như Tội tham ô tài sản (Điều 353), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội trốn thuế (Điều 200) nếu tiếp tay tẩu tán, hợp thức hóa tài sản phạm tội.-    Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323) hoặc Tội che giấu tội phạm (Điều 389) áp dụng nếu biết rõ tài sản do vi phạm pháp luật mà có nhưng vẫn nhận đứng tên giữ hộ, cản trở điều tra.-    Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) phát sinh nếu sau khi đứng tên hộ, người này nảy sinh ý định chiếm đoạt, tự ý đem nhà đất đi bán, thế chấp, gạt nợ hoặc cố tình không trả lại cho người nhờ.-    Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 341) nếu trong quá trình hoàn thiện hồ sơ sang tên, cấp giấy chứng nhận có hành vi tạo lập hoặc sử dụng hợp đồng, giấy tờ giả. 3.    Rủi ro pháp lý về dân sự đối với người được nhờ đứng tênTheo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, các giao dịch nhờ đứng tên thường bị xem là giao dịch giả tạo, hình thức chuyển nhượng công khai nhằm che giấu thỏa thuận sở hữu thực tế. Nên có thể xảy ra các trường hợp: -    Khi phát sinh mâu thuẫn giữa người nhờ và người đứng tên, hoặc khi một trong hai bên chết (phát sinh thừa kế), ly hôn (phát sinh chia tài sản vợ chồng), người đứng tên hộ sẽ bị lôi kéo vào các vụ kiện tụng dân sự kéo dài.-    Vì là chủ thể đứng tên hợp pháp trên giấy tờ, người đứng tên hộ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về các khoản thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, hoặc bị xử phạt hành chính nếu đất bị sử dụng sai mục đích/vi phạm trật tự xây dựng.-    Nếu người đứng tên hộ vướng vào nghĩa vụ nợ nần cá nhân khác, cơ quan thi hành án hoặc ngân hàng có quyền phong tỏa, kê biên bất động sản đứng tên họ để xử lý nợ.-    Số tiền thù lao nhận được khi giao dịch bị tuyên vô hiệu hoặc bị xác định là tiền thu lợi bất chính từ hành vi vi phạm sẽ bị buộc hoàn trả hoặc tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
Nhiều người thường truyền tai nhau một quan niệm sai lầm rằng: “Chủ nợ mất rồi thì xem như xóa nợ”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Việc chủ nợ đột ngột qua đời không đồng nghĩa với việc khoản nợ tự động “bốc hơi”.Vậy pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ trả nợ trong trường hợp này? Ai sẽ là người có quyền đứng ra đòi lại số tiền đó? 1. Khoản nợ không tự biến mất mà biến thành “Di sản thừa kế” Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:+ Di sản của một người để lại sau khi chết bao gồm: tài sản riêng của người đó và phần tài sản của người đó trong tài sản chung với người khác.+ Quyền đòi nợ (quyền tài sản) là một phần của di sản thừa kế. => Do đó, khi chủ nợ qua đời, quyền đòi lại số tiền đã cho vay sẽ được chuyển giao toàn bộ cho những người thừa kế hợp pháp của họ. Người vay tiền vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi theo đúng thỏa thuận ban đầu. 2. Trường hợp duy nhất con nợ “thoát nợ” hợp pháp khi chủ nợ mất - Người vay tiền sẽ chỉ thực sự được miễn nghĩa vụ trả nợ khi rơi vào một trong các trường hợp sau: + Có thỏa thuận trước: Trong hợp đồng vay tài sản ban đầu có điều khoản ghi rõ: “Hợp đồng vay sẽ tự động chấm dứt và miễn toàn bộ nghĩa vụ trả nợ nếu bên cho vay (chủ nợ) qua đời”.+ Được người thừa kế xóa nợ+ Chủ nợ không có người thừa kế: Theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản này sẽ thuộc về Nhà nước. Lúc này con nợ phải nộp trả số tiền đó vào ngân sách nhà nước theo đúng thủ tục, chứ không được giữ lại. 3. Con nợ cố tình bùng nợ khi chủ nợ mất sẽ bị xử lý thế nào? - Nếu con nợ nảy sinh lòng tham, cố tình che giấu khoản nợ hoặc không chịu trả tiền cho người thừa kế, họ có thể phải đối mặt với các chế tài pháp lý nghiêm trọng: + Bị khởi kiện dân sự+ Bị xử lý hình sự: Nếu con nợ dùng các thủ đoạn gian dối hoặc có điều kiện trả nhưng cố tình tẩu tán tài sản để trốn nợ => Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015). ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
1. Trường hợp phải bồi thường Căn cứ theo điều 604 Bộ Luật Dân sự 2015 bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra: “chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.” Như vậy trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý cây cối. Trường hợp tài sản gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu chiếm giữ tài sản có nghĩa vụ phải chịu bồi thường căn cứ theo khoản 3 điều 584 của Bộ Luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh” 2. Các trường hợp không phải bồi thường Và có một số trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu không phải bồi thường căn cứ vào khoản 3 điều 584 Bộ Luật Dân sự 2015 có quy định như khi có một sự kiện bất khả kháng như thiên tai, bão lũ lớn nằm ngoài tầm kiểm soát mà chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu không thể lường trước được và đã khắc phục mọi biện pháp như cắt tỉa chống đỡ cần thiết trước đó.Lưu ý nếu cây đã mục rỗng có nguy cơ gãy đổ từ lâu mà chủ sở hữu bỏ mặc không xử lý thì vẫn phải bồi thường chứ không được tính là sự kiện bất khả khángTrường hợp tiếp theo mà chủ sở hữu người chiếm hữu không phải bồi thường là hoàn toàn do lỗi bên người bị thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu cây sẽ được miễn hoàn toàn trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp chỉ có phần lỗi của chủ cây và phần lỗi người bị hại thì chỉ cần bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Ví dụ hàng xóm cố tình trèo lên cành cây nhà mình để đục đẽo hoặc kéo vật mà không thông báo thỏa thuận gì và cành cây bị gãy làm hỏng mái tôn nhà hàng xóm. Thì trong trường hợp này chủ cây không phải bồi thường cho hàng xóm. 3.    Phạm vi thiệt hại được bồi thường Căn cứ điều 585 luật dân sự 2015 thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời căn cứ điều 589 bộ luật dân sự 2015 gồm:-    Giá trị tài sản bị hư hỏng, hỏng học hoặc bị hủy hoại-    Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại -    Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc giảm sút. ⚠️ Lưu ý: Các quy định pháp luật thường xuyên sửa đổi vì vậy tại thời điểm quý khách hàng đọc có thể đã có sự thay đổi trong các quy định. Để biết thêm chi tiết quý khách hàng có thể truy cập vào website: https://phuongbinhlaw.vn/ hoặc liên hệ tới số điện thoại: 0936645695 để được tư vấn, đại diện cho quý khách hàng.
 
hotline 0936 645 695